Chùa tọa lạc tại số 5/11 ấp Long Trung, xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. ĐT: 066.846801. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
Cổng chùa
Chùa Thiền Lâm
Chùa do Hòa thượng Thích Từ Phong sáng lập, được khánh thành vào năm 1925. Chùa nằm trên một gò đất mang tên gò Kén, cạnh quốc lộ 22, cách thị xã Tây Ninh 5km, nên thường được gọi là chùa Gò Kén.
Kiến trúc chùa do kiến trúc sư Học Đình vẽ kiểu. Chiều dài ngôi chùa khoảng 30m, chiều rộng khoảng 15m, hai mái lợp ngói móc, trông chùa gần giống như ngôi nhà thờ Thiên Chúa.
Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Chùa thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, La hán, Minh Vương... Chùa còn giữ nhiều pho tượng cổ bằng gỗ. Trước chánh điện có đài Quan Âm.
Chùa được trùng tu năm 1970.
Tượng Bồ Tát Di Lặc
Tượng La Hán
Tượng Minh Vương
Trang trí một góc chùa
Chùa Việt Nam - Xưa và Nay
Võ văn Tường
Chùa Gò - câu chuyện trăm năm
Dường như cả tỉnh Tây Ninh chỉ có một ngôi chùa mang tên gò. Vậy nên, ai cũng biết đấy là chùa Gò Kén, tên chữ là Thiền Lâm tự. Còn trăm năm? Tính đến năm 2024, ngôi chùa này vừa tròn tuổi trăm.
Ta có thể tìm dấu tích về tuổi tác của chùa qua hai bia đá, được Hoà thượng Từ Phong cho người chế tác và dựng trước sân chùa. Đấy là hai tấm bia đục từ đá xanh nguyên khối đặt trên lưng con rùa đá. Ngày nay, các bia này được đặt trước tượng hai vị: Văn Thù và Phổ Hiền bồ tát. Trên bia, ngoài 8 chữ Hán nay đã bị mờ nhạt, chỉ có thể đoán đấy là chữ khắc tên chùa và người sáng lập thì vẫn còn các dòng chữ Pháp được khắc rõ nét hơn. Trước nay, hầu như không ai biết dòng chữ Pháp ấy có nghĩa gì. Ngay cả sư trụ trì cũng chỉ biết đấy là các dòng tên người - mà ông đoán là người thiết kế ngôi chùa.
Tuy nhiên gần đây, được sự giúp đỡ dịch và tra cứu của thầy giáo Pháp văn Trường chuyên Hoàng Lê Kha - thầy Ngô Trường Chinh, mới biết được chính xác nội dung. Đó là tên ông Raoul Guigues- Thống đốc Nam kỳ từ năm 1922. Bia được khắc năm làm là 1924. Trên tấm bia đặt chính giữa, ngay trước tượng Đức Phật Thích ca ngồi tựa gốc bồ đề, còn một tấm bia đá được khắc cả hai loại chữ Hán và chữ Pháp. Các chữ Hán trên bia được khắc rất sâu nên rõ nét. Còn chữ Pháp, tuy mờ nhạt hơn nhưng có cùng nội dung như các bia đá ở hai bên. Các dòng chữ Hán ở đây được dịch ra là: Giác Hải Tự/ Thích Từ Phong/ Sáng thỉ hồng nghiệp.
Nghĩa là: Người sáng lập ra chùa Thiền Lâm - Gò Kén là Hoà thượng Từ Phong, ở chùa Giác Hải. Tới đây, có đôi dòng nói thêm về Hoà thượng Từ Phong. Ngài có tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh ngày 15 tháng 3 năm Giáp Tý (20.4.1864) tại thôn Đức Hoà Thượng, tổng Dương Hoà Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Đức Hoà, tỉnh Long An)… Năm 16 tuổi (1880), ngài xin phép gia đình để được xuất gia. Sau đấy, ngài đến chùa Từ Lâm thuộc làng Hiệp Ninh, huyện Châu Thành, Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh) xin quy y thọ giới với thiền sư Minh Đạt, một vị danh tăng khả kính đương thời… Sau một thời gian, ngài lại cầu pháp với Hoà thượng Hoàng Ân- Minh Khiêm tại chùa Giác Viên (nay ở quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh). Ít lâu nữa, ngài lại được sư thầy bổ về Giác Sơn tự ở tổng Long Trung, tỉnh Chợ Lớn. Tại đây, ngài đổi tên chùa thành Giác Hải. Đây chính là ngôi chùa ngài trụ trì lâu nhất nên sau đó nhiều phật tử còn gọi ngài là Hoà thượng Giác Hải (theo luận văn thạc sĩ Phật học: Tư tưởng của Hoà thượng Từ Phong trong “Phát Bồ đề tâm diễn nghĩa” của Thích nữ Niệm Huệ, 2015).
Trở lại với tấm bia đá đang kể, ở mặt sau còn khắc một số dòng chữ Hán. Nội dung bia là: “Năm 1924/ Thiền Lâm tự/ Phúc Kiến/ Lý Thị Sợ và Ôn Chấn Phát/ Thành tâm thiết lộ/ Ngày 19 năm Giáp Tý”. Từ đây được biết con đường nối từ quốc lộ 22B, dài khoảng 250 m vào gò đã được vợ chồng Hoa kiều Phúc Kiến bỏ tiền ra làm để hiến tặng chùa. Chú ý rằng có “ngày 19”. Tuy không ghi tháng nhưng có thể suy đoán đấy là ngày 19 tháng 2 (âl)- ngày mà chùa Gò Kén có một dịp lễ hội rất quan trọng, rất quy mô. Đấy là dịp lễ hội vía Đức Quán Thế Âm bồ tát. Lễ này nhiều năm nay vẫn được tổ chức hoành tráng trong 3 ngày từ 17 đến 19 tháng 2 (âl).
Từ câu chuyện trăm năm ở trên, có thể tạm rút ra vài kết luận. Một là: Hoà thượng Từ Phong (Như Nhãn) chính là người đã “khai cơ tạo tự” chùa Thiền Lâm - Gò Kén. Tuy nhiều người đã biết, nhưng vẫn phải khẳng định lại vì hiện còn một giả thuyết khác cho rằng Yết Ma Lượng (Thích Trí Lượng, tức Hoà thượng Mẫn Đạt) mới là người sáng lập chùa. Sách Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Tây Ninh (Nxb Chính trị quốc gia, 2021), cho rằng Hoà thượng Thích Trí Lượng đã xây dựng tại gò một chùa tre lá đơn sơ, từ năm 1885. Dù vậy, sách này cũng viết ngôi chùa hiện tại là do Hoà thượng Từ Phong xây dựng, khởi công năm 1914. Nếu vậy thì trên bia đá đã không thể ghi rằng Hoà thượng Từ Phong “sáng thỉ hồng nghiệp” như ta thấy ngày nay. Hai là, dù còn một số tài liệu ghi năm hoàn thành chùa là năm 1925 hoặc 1926 (năm cho đạo Cao Đài mượn làm lễ ra mắt), thì bia đá vẫn cho ta thấy năm chùa thật sự hoàn thành là năm 1924. Đến nay vừa đúng 100 năm.
Có người sẽ hỏi “cắc cớ” rằng, tại sao chùa còn lưu giữ bản thiết kế (hoạ đồ) do Công ty Hạc Đình từ Paris vẽ, lại có dấu của quan Tây đồng ý, đóng dấu vào ngày 12.6.1925? Câu chuyện oái ăm này chắc có quan hệ với tấm bia đá khắc chữ Pháp kể trên. Đấy là do Hoà thượng đã lợi dụng cái gò hầu như tách biệt khỏi các con đường này, mà âm thầm xây dựng suốt trong 10 năm (1914-1924). Chỉ tới khi con đường nối từ quốc lộ 22B vào hoàn thành thì cũng là lúc chùa mới đã xây xong. Để đối phó với chính quyền cấp tỉnh, Hoà thượng đã cho khắc cả tên vị quan Thống đốc Nam kỳ lên bia, coi như đã có sự cho phép của quan Toàn quyền. Dù vậy, sau khi “lộ diện” thì vẫn có sự hạch hỏi, tra xét của quan tỉnh Tây Ninh. Do vậy mà xây xong, Hoà thượng tiếp tục phải làm các thủ tục xây dựng để hợp thức hoá ngôi chùa. Vì thế chuyện này được thực hiện trong năm 1925, khi chùa đã hoàn thành.
Ngày nay, chùa Thiền Lâm đã thật xứng đáng với ý định ban đầu của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Tây Ninh. Là xây dựng nơi đây thành trung tâm văn hoá Phật giáo của tỉnh. Các công trình xây dựng trong khoảng 15 năm qua là: tượng phật nhập niết bàn dài 25 mét (2014), tượng Quán Thế Âm cao 32 mét (2017). Rồi cổng tam quan, bảo tháp xá lợi, vườn lâm tỳ ni, núi ngũ hành, nhà đặt trụ kinh luân… cùng các công trình phục vụ dân sinh như phòng thuốc Nam, nhà bán hàng gây Quỹ Ươm mầm trí tuệ…
Đặc biệt là ngôi đại hùng bửu điện, được mở rộng từ ngôi chính điện cũ ra phía sau, và toà tháp xá lợi 9 tầng sẽ được khánh thành vào ngày 19 tháng 2 (âl) tới đây, nhân lễ vía Quán Thế Âm bồ tát năm Giáp Thìn. Ngồi trò chuyện với sư Thích Thiện Nghĩa- trụ trì chùa trong dịp đầu xuân mới 2024, chúng tôi còn được biết: ngôi bảo tháp xá lợi 9 tầng, cao 40 mét sắp khánh thành cũng là một tâm nguyện của Hoà thượng Từ Phong. Bởi chùa còn lưu giữ bức ảnh một toà tháp 9 tầng, do Hoà thượng Từ Phong đem về và nâng niu gìn giữ mà còn tới ngày nay. Tấm ảnh bảo tháp có dòng chữ Hán, dịch ra là Tào Khê Pháp Nhũ. Nghĩa rằng: Dòng Phật pháp của Đức Phật như một dòng sữa cho chúng sanh. Toà tháp ước mơ ấy của Hoà thượng Từ Phong nay đã trở thành hiện thực qua tâm huyết của Đại đức Thích Thiện Nghĩa cùng các phật tử chùa Thiền Lâm - Gò Kén. Bảo tháp 9 tầng cao lồng lộng, lợp 9 tầng mái ngói men xanh vươn lên giữa trời và soi trên mặt hồ bóng nước lung linh.
Tượng phật bằng đồng nặng 32 tấn.
Ta có thể tìm dấu tích về tuổi tác của chùa qua hai bia đá, được Hoà thượng Từ Phong cho người chế tác và dựng trước sân chùa. Đấy là hai tấm bia đục từ đá xanh nguyên khối đặt trên lưng con rùa đá. Ngày nay, các bia này được đặt trước tượng hai vị: Văn Thù và Phổ Hiền bồ tát. Trên bia, ngoài 8 chữ Hán nay đã bị mờ nhạt, chỉ có thể đoán đấy là chữ khắc tên chùa và người sáng lập thì vẫn còn các dòng chữ Pháp được khắc rõ nét hơn. Trước nay, hầu như không ai biết dòng chữ Pháp ấy có nghĩa gì. Ngay cả sư trụ trì cũng chỉ biết đấy là các dòng tên người - mà ông đoán là người thiết kế ngôi chùa.
Tuy nhiên gần đây, được sự giúp đỡ dịch và tra cứu của thầy giáo Pháp văn Trường chuyên Hoàng Lê Kha - thầy Ngô Trường Chinh, mới biết được chính xác nội dung. Đó là tên ông Raoul Guigues- Thống đốc Nam kỳ từ năm 1922. Bia được khắc năm làm là 1924. Trên tấm bia đặt chính giữa, ngay trước tượng Đức Phật Thích ca ngồi tựa gốc bồ đề, còn một tấm bia đá được khắc cả hai loại chữ Hán và chữ Pháp. Các chữ Hán trên bia được khắc rất sâu nên rõ nét. Còn chữ Pháp, tuy mờ nhạt hơn nhưng có cùng nội dung như các bia đá ở hai bên. Các dòng chữ Hán ở đây được dịch ra là: Giác Hải Tự/ Thích Từ Phong/ Sáng thỉ hồng nghiệp.
Nghĩa là: Người sáng lập ra chùa Thiền Lâm - Gò Kén là Hoà thượng Từ Phong, ở chùa Giác Hải. Tới đây, có đôi dòng nói thêm về Hoà thượng Từ Phong. Ngài có tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh ngày 15 tháng 3 năm Giáp Tý (20.4.1864) tại thôn Đức Hoà Thượng, tổng Dương Hoà Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Đức Hoà, tỉnh Long An)… Năm 16 tuổi (1880), ngài xin phép gia đình để được xuất gia. Sau đấy, ngài đến chùa Từ Lâm thuộc làng Hiệp Ninh, huyện Châu Thành, Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh) xin quy y thọ giới với thiền sư Minh Đạt, một vị danh tăng khả kính đương thời… Sau một thời gian, ngài lại cầu pháp với Hoà thượng Hoàng Ân- Minh Khiêm tại chùa Giác Viên (nay ở quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh). Ít lâu nữa, ngài lại được sư thầy bổ về Giác Sơn tự ở tổng Long Trung, tỉnh Chợ Lớn. Tại đây, ngài đổi tên chùa thành Giác Hải. Đây chính là ngôi chùa ngài trụ trì lâu nhất nên sau đó nhiều phật tử còn gọi ngài là Hoà thượng Giác Hải (theo luận văn thạc sĩ Phật học: Tư tưởng của Hoà thượng Từ Phong trong “Phát Bồ đề tâm diễn nghĩa” của Thích nữ Niệm Huệ, 2015).
Tháp xá lợi chùa Gò Kén.
Trở lại với tấm bia đá đang kể, ở mặt sau còn khắc một số dòng chữ Hán. Nội dung bia là: “Năm 1924/ Thiền Lâm tự/ Phúc Kiến/ Lý Thị Sợ và Ôn Chấn Phát/ Thành tâm thiết lộ/ Ngày 19 năm Giáp Tý”. Từ đây được biết con đường nối từ quốc lộ 22B, dài khoảng 250 m vào gò đã được vợ chồng Hoa kiều Phúc Kiến bỏ tiền ra làm để hiến tặng chùa. Chú ý rằng có “ngày 19”. Tuy không ghi tháng nhưng có thể suy đoán đấy là ngày 19 tháng 2 (âl)- ngày mà chùa Gò Kén có một dịp lễ hội rất quan trọng, rất quy mô. Đấy là dịp lễ hội vía Đức Quán Thế Âm bồ tát. Lễ này nhiều năm nay vẫn được tổ chức hoành tráng trong 3 ngày từ 17 đến 19 tháng 2 (âl).
Từ câu chuyện trăm năm ở trên, có thể tạm rút ra vài kết luận. Một là: Hoà thượng Từ Phong (Như Nhãn) chính là người đã “khai cơ tạo tự” chùa Thiền Lâm - Gò Kén. Tuy nhiều người đã biết, nhưng vẫn phải khẳng định lại vì hiện còn một giả thuyết khác cho rằng Yết Ma Lượng (Thích Trí Lượng, tức Hoà thượng Mẫn Đạt) mới là người sáng lập chùa. Sách Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Tây Ninh (Nxb Chính trị quốc gia, 2021), cho rằng Hoà thượng Thích Trí Lượng đã xây dựng tại gò một chùa tre lá đơn sơ, từ năm 1885. Dù vậy, sách này cũng viết ngôi chùa hiện tại là do Hoà thượng Từ Phong xây dựng, khởi công năm 1914. Nếu vậy thì trên bia đá đã không thể ghi rằng Hoà thượng Từ Phong “sáng thỉ hồng nghiệp” như ta thấy ngày nay. Hai là, dù còn một số tài liệu ghi năm hoàn thành chùa là năm 1925 hoặc 1926 (năm cho đạo Cao Đài mượn làm lễ ra mắt), thì bia đá vẫn cho ta thấy năm chùa thật sự hoàn thành là năm 1924. Đến nay vừa đúng 100 năm.
Có người sẽ hỏi “cắc cớ” rằng, tại sao chùa còn lưu giữ bản thiết kế (hoạ đồ) do Công ty Hạc Đình từ Paris vẽ, lại có dấu của quan Tây đồng ý, đóng dấu vào ngày 12.6.1925? Câu chuyện oái ăm này chắc có quan hệ với tấm bia đá khắc chữ Pháp kể trên. Đấy là do Hoà thượng đã lợi dụng cái gò hầu như tách biệt khỏi các con đường này, mà âm thầm xây dựng suốt trong 10 năm (1914-1924). Chỉ tới khi con đường nối từ quốc lộ 22B vào hoàn thành thì cũng là lúc chùa mới đã xây xong. Để đối phó với chính quyền cấp tỉnh, Hoà thượng đã cho khắc cả tên vị quan Thống đốc Nam kỳ lên bia, coi như đã có sự cho phép của quan Toàn quyền. Dù vậy, sau khi “lộ diện” thì vẫn có sự hạch hỏi, tra xét của quan tỉnh Tây Ninh. Do vậy mà xây xong, Hoà thượng tiếp tục phải làm các thủ tục xây dựng để hợp thức hoá ngôi chùa. Vì thế chuyện này được thực hiện trong năm 1925, khi chùa đã hoàn thành.
Bia đá chùa Gò Kén.
Ngày nay, chùa Thiền Lâm đã thật xứng đáng với ý định ban đầu của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Tây Ninh. Là xây dựng nơi đây thành trung tâm văn hoá Phật giáo của tỉnh. Các công trình xây dựng trong khoảng 15 năm qua là: tượng phật nhập niết bàn dài 25 mét (2014), tượng Quán Thế Âm cao 32 mét (2017). Rồi cổng tam quan, bảo tháp xá lợi, vườn lâm tỳ ni, núi ngũ hành, nhà đặt trụ kinh luân… cùng các công trình phục vụ dân sinh như phòng thuốc Nam, nhà bán hàng gây Quỹ Ươm mầm trí tuệ…
Đặc biệt là ngôi đại hùng bửu điện, được mở rộng từ ngôi chính điện cũ ra phía sau, và toà tháp xá lợi 9 tầng sẽ được khánh thành vào ngày 19 tháng 2 (âl) tới đây, nhân lễ vía Quán Thế Âm bồ tát năm Giáp Thìn. Ngồi trò chuyện với sư Thích Thiện Nghĩa- trụ trì chùa trong dịp đầu xuân mới 2024, chúng tôi còn được biết: ngôi bảo tháp xá lợi 9 tầng, cao 40 mét sắp khánh thành cũng là một tâm nguyện của Hoà thượng Từ Phong. Bởi chùa còn lưu giữ bức ảnh một toà tháp 9 tầng, do Hoà thượng Từ Phong đem về và nâng niu gìn giữ mà còn tới ngày nay. Tấm ảnh bảo tháp có dòng chữ Hán, dịch ra là Tào Khê Pháp Nhũ. Nghĩa rằng: Dòng Phật pháp của Đức Phật như một dòng sữa cho chúng sanh. Toà tháp ước mơ ấy của Hoà thượng Từ Phong nay đã trở thành hiện thực qua tâm huyết của Đại đức Thích Thiện Nghĩa cùng các phật tử chùa Thiền Lâm - Gò Kén. Bảo tháp 9 tầng cao lồng lộng, lợp 9 tầng mái ngói men xanh vươn lên giữa trời và soi trên mặt hồ bóng nước lung linh.
Trần Vũ
Chùa Gò Kén - Tây Ninh
Tui biết chùa Gò Kén đã lâu, trong ký ức của tui đây là ngôi chùa ở hơi xa trung tâm thị xã Tây Ninh và không có gì nổi bật. Vì vậy, gần đây thấy hầu hết các tour du lịch Tây Ninh đều có mục tham quan chùa Gò Kén thì tui nghĩ bụng chắc tại Tây Ninh không có điểm tham quan hấp dẫn nào ngoài núi Bà Đen và Tòa Thánh Cao Đài nên người tổ chức mới điền thêm chùa Gò Kén vô cho nó... kín tour, chớ ở đây đâu có gì đặc sắc.
Gần đây, có dịp viếng thăm lại chùa Gò Kén tui mới giật mình thấy ngôi chùa bây giờ khác xa so với những gì trong ký ức của tui và hoàn toàn xứng đáng là điểm đến tuyệt vời không chỉ của người đến vì tín ngưỡng mà cả đối với khách du lịch.
Ngôi chánh điện khá rộng, có diện tích 30 x 15 met. Trong chánh điện thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, La hán, Minh Vương...
Tam quan chùa Gò Kén hiện nay. Ảnh: Giang Phương, báo Thanh niên
Gần đây, có dịp viếng thăm lại chùa Gò Kén tui mới giật mình thấy ngôi chùa bây giờ khác xa so với những gì trong ký ức của tui và hoàn toàn xứng đáng là điểm đến tuyệt vời không chỉ của người đến vì tín ngưỡng mà cả đối với khách du lịch.
Chùa Gò Kén có tên chính thức là chùa Thiền Lâm, nằm ven quốc lộ 22B, cách trung tâm Hòa Thành, Tây Ninh khoảng 7 km. Niên đại khai sơn chùa các tài liệu ghi có khác nhau đôi chút (điều này ta sẽ xét kỹ hơn sau) nhưng chắc chắn là đầu thế kỷ 20, tức cách đây trên trăm năm. Thuở khai sơn, nơi chùa tọa lạc là một gò đất có nhiều dây kén, gọi là Gò Kén, vì vậy người dân thường gọi đây là chùa Gò Kén (dây kén là dây gì ta cũng sẽ bàn sau).
Những hình ảnh dưới đây là chùa Gò Kén khoảng năm 2000, trích từ tài liệu Chùa Việt Nam - Xưa và Nay của cư sĩ Võ văn Tường. Đây cũng là hình ảnh về chùa Gò Kén ghi nhớ trong ký ức tu từ lâu lắm.
Chùa Gò Kén thuở xưa. Ảnh: Võ văn Tường
So với cổng chùa Gò Kén hiện nay (ảnh trên cùng) và ngôi chùa hiện nay (ảnh dưới) thì quả thiệt là khác nhau nhiều!
Chùa Gò Kén hiện nay. Ảnh: Giang Phương, báo Thanh niên
Trước đây chùa Gò Kén đã qua một lần trùng tu năm 1970 và những hình ảnh ghi là thuở xưa ở trên được chụp khoảng năm 2000. Thời gian trôi qua ngôi chùa ngày càng xuống cấp, những nâng cấp, đại trùng tu chỉ mới được thực hiện trong khoảng 15 năm gần đây. Có thể kể những công trình điêu khắc, xây dựng lớn như: tượng Phật nhập Niết bàn dài 25 mét (2014), tượng Quán Thế Âm cao 32 mét (2017), cổng tam quan, bảo tháp xá lợi, vườn lâm tỳ ni, núi ngũ hành, nhà đặt trụ kinh luân… cùng các công trình phục vụ dân sinh như phòng thuốc Nam, nhà bán hàng gây Quỹ Ươm mầm trí tuệ… Mới nhất là ngôi đại hùng bửu điện, được mở rộng từ ngôi chính điện cũ ra phía sau, và toà tháp xá lợi 9 tầng được khánh thành đầu năm 2024.
Thuở ban đầu, chùa tọa lạc trên một diện tích 20.000 m² nhưng hiện nay do nhiều lý do khách quan diện tích chỉ còn 6.000 m².
Chùa Gò Kén 2025. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Chánh điện và tượng Phật trong chánh điện. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Các tượng Phật, tiểu cảnh trong khuôn viên chùa. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Một điểm nhấn nổi bật của chùa Gò Kén là bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm cao 25 m, đứng trên con rồng cao tới 7 m giữa hồ sen. Đây là tượng Bồ tát Quan Thế Âm cao bậc nhất miền Nam, và khung cảnh ở hồ sen này cũng là điểm chụp ảnh check in đặc sắc cho khách du lịch.
Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Ngôi bảo tháp xá lợi mới hoàn thành năm 2024. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Trên đây là đến và ngắm chùa Thiền Lâm - Gò Kén. Còn những điều ngẫm khi đến chùa và cả khi ra về, xin hẹn viết sau nhé.
Phạm Hoài Nhân
Tấm bia đá trên lưng rùa ở chùa Gò Kén
Bước vào chùa Gò Kén, ta sẽ thấy ngay trong sân chùa trước chánh điện một con rùa mang bia đá trên lưng.
Điều lạ là trên bia ngoài một số chữ Hán như thường thấy trong các công trình tín ngưỡng cổ, người ta lại thấy những chữ tiếng Pháp. Bia này là gì và những chữ trên đó có ý nghĩa gì?
Khác với nhiều quan chức Pháp thời đó thường sống tách biệt, Raoul Guigues được biết đến là người rất am hiểu và tôn trọng văn hóa Việt Nam. Ông từng là thành viên tích cực rồi là chủ tịch Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) – một tổ chức chuyên nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và khảo cổ học tại Việt Nam.
Họ tên đầy đủ: Elisée Philippe Raoul Jules Guigues.
Ngày sinh: 17/01/1868.
Raoul Guigues bắt đầu sự nghiệp của mình trong lực lượng Hải quân Pháp và đã thăng tiến qua nhiều cấp bậc (1886 - 1904). Ông xin từ chức và rời khỏi ngành Hải quân vào ngày 31/8/1904. Trong giai đoạn này ông được trao tặng Bắc đẩu Bội tinh Đệ Ngũ đẳng năm 1900.
Rời quân ngũ, Raoul Guigues bắt đầu Sự nghiệp Hành chính và Tài chính tại Thuộc địa (1904 – 1921). Ông hoạt động tại châu Phi, rồi sau đó chuyển sang Việt Nam. Từ ngày 7/ 9/1917, ông giữ chức vụ Thủ quỹ đặc biệt của Nam Kỳ (Trésorier Particulier de la Cochinchine) tại Sài Gòn,. Ông tiếp tục đảm nhiệm vị trí này cho đến năm 1921.
Ông được trao tặng Bắc đẩu Bội tinh Đệ Tứ đẳng theo quyết định ngày 5/2/1921. Lễ trao tặng danh hiệu này được tổ chức tại Sài Gòn vào ngày 14/6/1921.
Tuy nhiên, theo hồ sơ của Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) ta được biết như sau:
Vào ngày 26/4/1928, Hiệp hội đã tổ chức một buổi tiệc chia tay (vin d'honneur) tại khách sạn Continental để tri ân những đóng góp của ông Raoul Guigues trước khi ông lên đường trở về Pháp.
Chùa Thiền Lâm ở Tây Ninh có tên dân gian là chùa Gò Kén, lời giải thích cho cái tên này được người dân kể lại một cách thống nhất và rõ ràng: chùa nằm trên một cái gò đất cao mọc đầy dây kén, gọi là Gò Kén.
Không ai thắc mắc hay nghi ngờ gì về xuất xứ cái tên Gò Kén hết, nhưng dây kén là dây gì thì nhiều người không biết (trong đó có tui).
Tất nhiên đây không phải là dây kén trong tên chùa Gò Kén rồi. Theo đại đức Thích Thiện Nghĩa, trụ trì chùa Gò Kén, dây kén là một họ dây leo, có trái chín màu đỏ, ăn vào có vị ngọt ngọt, chua chua mà ở Việt Nam không còn thấy xuất hiện. Đại đức Thích Thiện Nghĩa cũng cho biết hiện chùa Thiền Lâm - Gò Kén được sự chỉ dẫn của các phật tử đã sang nước bạn Campuchia tìm kiếm và đào được dây kén về trồng để gây giống nhằm phục dựng lại hiện trạng di tích ngôi chùa được dân gian gọi tên Gò Kén khi xưa.
Theo Thượng tọa Thích Đồng Bổn, trong Tiểu sử Danh tăng Việt Nam Thế kỷ XX - Tập 1, phần nói về hòa thượng Thích Từ Phong: Hòa thượng Thích Từ Phong, thế danh Nguyễn Văn Tường, sanh năm Giáp Tý (1864). Năm 16 tuổi, Ngài tìm đến chùa Từ Lâm ở làng Hiệp Ninh, châu thành Tây Ninh, xin quy y thọ giới với thiền sư Minh Đạt (tục gọi Yết Ma Lượng) là một danh tăng khả kính đương thời.Trong những năm 1920-1925, thấy chùa Từ Lâm của thầy Tổ mình nằm trong khuôn viên châu thành Tây Ninh quá chật hẹp, Ngài dựng một ngôi chùa mới tại Gò Kén, Thôn Thái Hiệp Thạnh, gần châu thành. Ngôi chùa này qui mô đồ sộ, trang trí đẹp, nằm trong khu vực yên tĩnh, rộng rãi, cũng mang tên Từ Lâm, ngụ ý của Ngài là muốn tuyên dương công nghiệp của Thầy Tổ mình. Sau đó Ngài lại cải táng hài cốt Sư phụ là thiền sư Minh Đạt về chùa mới, xây tháp tôn thờ.
Báo Giác Ngộ, nhân dịp tưởng niệm hòa thượng Thích Từ Phong, có ghi lại vài dòng về hành trạng của Ngài: Năm 1880, ngài đến chùa Thiền Lâm ở Tây Ninh, thọ giáo Thiền sư Minh Đạt (đời 38 dòng Lâm Tế). Trong khoảng thời gian 1920 - 1925, HT. Từ Phong xây một ngôi chùa mới ở Gò Kén - Tây Ninh, đặt tên là chùa Thiền Lâm để tưởng nhớ chùa Thiền Lâm của Thiền sư Minh Đạt.
Hiện giờ ngôi mộ Thiền sư Minh Đạt vẫn còn ở chùa Gò Kén, ngay sau tượng Văn Thù bồ tát cưỡi sư. Tháp mộ nằm biệt lập phía trước, bên trái mặt tiền chùa. Bia mộ cho biết, người nằm dưới là Hoà thượng Thích Trí Lượng, tổ đời thứ 38 môn phái Lâm Tế chánh tông. Ngài sinh năm Kỷ Mão (1819) và mất ngày 11 tháng 12 âm lịch năm Canh Tý (1900).
Chùa Gò Kén đóng một vai trò vô cùng đặc biệt đối với đạo Cao Đài. Tuy là ngôi chùa Phật giáo nhưng đây chính là nơi khai đạo Cao Đài.
Lịch sử đạo Cao Đài viết khác hơn và dài hơn, tại đây ghi nhận hòa thượng Thích Từ Phong là một vị lãnh đạo chi phái Cao Đài bỏ đạo. Chi tiết đoạn sử này như sau (trong đoạn này hòa thượng Thích Từ Phong được gọi là Như Nhãn do lúc đến chùa Giác Viên cầu pháp với Hòa thượng Hoằng Ân - Minh Khiêm, ngài được ban pháp danh Như Nhãn, pháp hiệu Từ Phong)
Trong số bổn đạo đóng góp tiền mua đất và xây chùa Từ Lâm ở Gò Kén, ông bà Huyện Nguyễn Ngọc Thơ và Bà Lâm Ngọc Thanh cũng có đóng góp tiền bạc vào nhiều hơn hết. Chùa mới vừa xây dựng xong phần chánh, chưa trang trí, chưa làm đường lớn từ quốc lộ vào chùa, không có Đông lang, Tây lang. Lúc đó là vào năm 1925.
Vào giữa năm Bính-Dần (1926) ông bà Nguyễn Ngọc Thơ được Ðức Chí-Tôn thâu làm Môn đệ, nhập vào Ðạo Cao Ðài. Hai ông bà cũng muốn Ðức Chí Tôn thâu phục Hòa-Thượng Như-Nhãn, nên ông bà thuyết phục Hòa Thượng đến dự một đàn cơ cầu Ðức Chí Tôn tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân-Ðịnh. Ðức Chí Tôn giáng cơ thâu nhận Hòa Thượng Như Nhãn.
Giữa tháng 7 năm Bính-Dần (1926) Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ.
Sau đó, do sự yêu cầu của ông bà Thơ, Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm (Gò Kén) cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Ðạo.
Ngày 29-7-Bính Dần (DL 5-9-1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí-Tôn giáng cơ ân phong là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Thái.
Ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926) Ðại Lễ Khai Ðạo Cao Ðài được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh) có hằng vạn tín đồ Cao Ðài dự lễ, số quan khách ngoài đời cũng đến dự rất đông.
Ðêm 14 rạng 15 tháng 10 âm-lịch, tổ chức đàn cơ trong Thánh Thất, Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trấn pháp sót một cửa, nên thừa dịp nầy, quỉ nhập vào đàn, một con quỉ nhập vào ông Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, một con quỉ khác nhập vào cô Vương Thanh Chi xưng là Lê Sơn Thánh Mẫu, nói năng lộn xộn rồi nắm tay nhau nhảy múa, khiến cho nhiều người mới vào Ðạo Cao Ðài bị mất đức tin.
Hòa Thượng Như Nhãn cũng bị mất đức tin. Mặc khác, số đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn yêu cầu Ngài bỏ Ðạo Cao Ðài và đòi chùa lại. Hòa Thượng Như Nhãn nghe theo và quyết định đòi chùa Từ Lâm, không hiến cho Ðạo Cao Ðài nữa, hẹn trong 3 tháng Ðạo Cao Ðài phải dời
Ngày 19-11-Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn bị thiêng liêng quở phạt làm cho đau nặng.
Ngày 01-12-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ quở phái Thái và Hòa Thượng Như Nhãn, tỏ ý muốn phế bỏ phái Thái. Ðức Phổ Hiền Bồ Tát cầu xin Đức Chí Tôn tha thứ cho phái Thái và đừng bỏ phái Thái (phái Phật).
Ðức Lý Giáo-Tông giáng cơ trục xuất Hòa Thượng Như Nhãn ra khỏi Ðạo Cao Ðài.Tháng 2 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo-Tông quyết định trả chùa Từ Lâm cho Hòa Thượng Như Nhãn và chỉ dẫn Hội Thánh tìm mua được 96 mẫu đất tại làng Long Thành (Tây Ninh) để dời các cơ sở của Ðạo về nơi đây, lập thành Tòa Thánh Trung ương của Ðạo Cao Ðài.
Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Điều lạ là trên bia ngoài một số chữ Hán như thường thấy trong các công trình tín ngưỡng cổ, người ta lại thấy những chữ tiếng Pháp. Bia này là gì và những chữ trên đó có ý nghĩa gì?
RAOUL GUIGUES
Trésorier payeur
de la Cochinchine
1924
Raoul Guigues là tên người, có vẻ là người Pháp. Trésorier payeur: chức vụ Trưởng ngân khố / Tổng thủ quỹ. de la Cochinchine: Nam Kỳ (Cochinchine) thời Pháp thuộc. 1924: là niên biểu, có thể là năm mất hoặc năm lập bia tưởng niệm.
Như vậy đây là bia vinh danh hoặc tưởng niệm một người Pháp tên Raoul Guigues, Tổng thủ quỹ Nam Kỳ, năm 1924.
Một người Pháp được vinh danh hay tưởng niệm ở một ngôi chùa tại Việt Nam rõ ràng là một điều rất đặc biệt. Vậy ông Raoul Guigues là ai?
Đúng như trên bia đã ghi, ông Raoul Guigues đã từng giữ chức Tổng thủ quỹ (Trésorier Payeur) của chính quyền thuộc địa Pháp tại Nam Kỳ (Cochinchine). Đây là một chức vụ rất quan trọng, quản lý toàn bộ hệ thống ngân sách và kho bạc của Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Khác với nhiều quan chức Pháp thời đó thường sống tách biệt, Raoul Guigues được biết đến là người rất am hiểu và tôn trọng văn hóa Việt Nam. Ông từng là thành viên tích cực rồi là chủ tịch Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) – một tổ chức chuyên nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và khảo cổ học tại Việt Nam.
Tượng Đức Phật Thích Ca ở khuôn viên chùa Gò Kén. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Việc một người Pháp có bia trên lưng rùa tại chùa là điều rất hiếm thấy, lý do xuất phát từ mối quan hệ giữa ông và Hòa thượng Thích Từ Phong (người có công lớn xây dựng chùa Gò Kén):
- Sự giúp đỡ về pháp lý: Khi Hòa thượng Từ Phong xây dựng chùa Gò Kén vào những năm 1920, ngôi chùa gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục hành chính và sự soi xét của chính quyền tỉnh Tây Ninh lúc bấy giờ. Theo một số giai thoại địa phương, Raoul Guigues chính là người đã có những can thiệp, giúp đỡ về mặt giấy tờ và tài chính để ngôi chùa được xây dựng thuận lợi.
- Sự kính trọng: Vì lòng biết ơn và sự kính trọng đối với một người Pháp có tâm với Phật giáo và văn hóa Việt, Hòa thượng Từ Phong đã cho tạc bia đá và đặt trên lưng rùa ngay trước sân chùa để ghi công.
Điều ngạc nhiên là mặc dù dòng chữ trên bia khá rõ về chức vụ của ông Guigues là Trésorier payeur nhưng một trang web chính thống lại ghi chức vụ của ông là Thống đốc Nam kỳ từ năm 1922. Một số trang web khác, có lẽ lấy nguồn từ trang web chính thống nêu trên nhưng thấy chức danh Thống đốc Nam kỳ không khớp với chữ Trésorier payer nên ghi thêm: Mặc dù đã được thăng chức lên thống đốc Nam kỳ từ 1922, nhưng bia vẫn ghi chức vụ cũ là tổng thủ quỹ Nam kỳ để nhấn mạnh sự giúp đỡ về mặt giấy tờ và tài chính đối với việc xây dựng chùa Gò Kén.
Những thông tin này khiến tui phải tìm hiểu thêm để xác minh chúng có đúng không!
Chùa Gò Kén. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Trước hết, trong danh sách thống đốc Nam kỳ suốt từ ngày đầu tiên (1858) đến ngày cuối cùng (1945) không hề có ông nào tên Raoul Guigues hết!
Kế tiếp tui tìm hiểu thêm về tiểu sử ông Raoul Guigues. Tui được biết ông đã từng được thụ phong Huân chương Bắc đẩu Bội tinh đệ tứ đẳng và đệ ngũ đẳng. Các thông tin về ông trong Hồ sơ cá nhân và quá trình thụ phong Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh (Légion d'Honneur) của ông Elisée Philippe Raoul Jules Guigues như sau:
Họ tên đầy đủ: Elisée Philippe Raoul Jules Guigues.
Ngày sinh: 17/01/1868.
Raoul Guigues bắt đầu sự nghiệp của mình trong lực lượng Hải quân Pháp và đã thăng tiến qua nhiều cấp bậc (1886 - 1904). Ông xin từ chức và rời khỏi ngành Hải quân vào ngày 31/8/1904. Trong giai đoạn này ông được trao tặng Bắc đẩu Bội tinh Đệ Ngũ đẳng năm 1900.
Quyết định phong tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh Đệ Ngũ đẳng (Chevalier) cho Guigues ngày 12/10/1900
Rời quân ngũ, Raoul Guigues bắt đầu Sự nghiệp Hành chính và Tài chính tại Thuộc địa (1904 – 1921). Ông hoạt động tại châu Phi, rồi sau đó chuyển sang Việt Nam. Từ ngày 7/ 9/1917, ông giữ chức vụ Thủ quỹ đặc biệt của Nam Kỳ (Trésorier Particulier de la Cochinchine) tại Sài Gòn,. Ông tiếp tục đảm nhiệm vị trí này cho đến năm 1921.
Ông được trao tặng Bắc đẩu Bội tinh Đệ Tứ đẳng theo quyết định ngày 5/2/1921. Lễ trao tặng danh hiệu này được tổ chức tại Sài Gòn vào ngày 14/6/1921.
Quyết định phong tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh Đệ Tứ đẳng (Officier) cho Guigues ngày 5/2/1921
Về con số 1924, theo phỏng đoán đó là năm mất của ông Raoul Guigues, như thông lệ thường thấy ở các bia tưởng niệm. Đa số các bài viết trên mạng cũng... đoán vậy!
Tuy nhiên, theo hồ sơ của Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) ta được biết như sau:
Ông Raoul Guigues đóng một vai trò quan trọng và có nhiều đóng góp nổi bật cho Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises - SEI) tại Sài Gòn, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 1923 đến 1928.
Ông từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hiệp hội trước khi được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội vào ngày 12/2/1927 với sự nhất trí tuyệt đối của hội đồng. Ông giữ chức vụ này cho đến khi rời Đông Dương về Pháp vào tháng 4/1928.
Như vậy, ít nhất là đến tháng 4/1928 ông Guigues vẫn... còn sống. Năm 1924 không thể là năm mất của ông được. Con số 1924 trên bia có lẽ là năm lập bia, cũng là lúc chùa Gò Kén được xây dựng hoàn tất về cơ bản.
Bây giờ hãy trở lại các chữ Hán trên bia. Có mấy chữ thôi hà nhưng nhảy lên nhảy xuống hơi lung tung.
Ba chữ trên cùng là Giáp Tý niên, tức Năm Giáp Tý, cũng chính là năm 1924, trùng với niên biểu 1924 ghi ở phần dưới.
Năm chữ phía dưới là Thích Từ Phong Hòa thượng. Đây chính là vị hòa thượng trụ trì và xây nên chùa Gò Kén. Ông cũng là người có quan hệ mật thiết với Raoul Guigues như đã nêu ở trên. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là hòa thượng Thích Từ Phong sinh năm 1864, cũng là năm Giáp Tý. Thế nhưng chắc chữ Giáp Tý niên ở trên là chỉ năm 1924 chớ không phải 1864 đâu!
Kết luận: Bia này do hòa thượng Thích Từ Phong lập năm 1924 để ghi nhớ và vinh danh ông Raoul Guigues, tổng thủ quỹ Nam kỳ - người có công lớn trong việc xây chùa Gò Kén.
Phạm Hoài Nhân
Chùa Gò Kén, những chuyện thuở ban sơ
Cây kén là cây gì trong tên chùa Gò Kén?
Chùa Gò Kén 2025. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Không ai thắc mắc hay nghi ngờ gì về xuất xứ cái tên Gò Kén hết, nhưng dây kén là dây gì thì nhiều người không biết (trong đó có tui).
Có một website Việt Nam nhưng viết bằng tiếng Anh (chắc để quảng bá văn hóa Việt ra quốc tế) khi giới thiệu chùa Gò Kén đã mạnh dạn giới thiệu rằng tên gọi của chùa được đặt theo tên của một loài cây mọc nhiều ở trên gò nơi chùa tọa lạc có tên là cocoon plant! Chắc nhiều người đã nhận ra ngay chữ cocoon này nghĩa là cái kén (của con nhộng) và có vẻ như trang web này đã dùng Google để dịch.
Ngẫu nhiên mà cocoon plant cũng đúng là tên một loại cây. Đó là cây Senecio haworthii, thường được gọi là The Cocoon Plant, là một loài sen đá thuộc họ Asteraceae. Ở Việt Nam, những nơi bán sen đá gọi là cây cáo tuyết.
Cocoon plant hay Senecio haworthii
Cái tên dân gian của chùa là Gò Kén thì rõ rồi, còn tên tự, theo như ghi nhận hiện tại là chùa Thiền Lâm. Thế nhưng chùa còn một tên khác nữa là chùa Từ Lâm, và thời điểm khai sơn chùa còn có những ý kiến chưa thống nhất.
Ta hãy xem những nguồn đáng tin cậy sau:
Theo Đại đức Thích Thiện Nghĩa, đương nhiệm trụ trì chùa Thiền Lâm, ngôi chùa này do hòa thượng Thích Trí Lượng khởi xây vào khoảng năm 1904 với hình thức ban đầu là tre lá đơn sơ. Vào năm 1925, hòa thượng Thích Từ Phong, đệ tử của hòa thượng Thích Trí Lượng cùng các tín đồ phật giáo đã xây dựng ngôi chùa lại kiên cố trên khuôn viên rộng 20.000 m².
Báo Giác Ngộ, nhân dịp tưởng niệm hòa thượng Thích Từ Phong, có ghi lại vài dòng về hành trạng của Ngài: Năm 1880, ngài đến chùa Thiền Lâm ở Tây Ninh, thọ giáo Thiền sư Minh Đạt (đời 38 dòng Lâm Tế). Trong khoảng thời gian 1920 - 1925, HT. Từ Phong xây một ngôi chùa mới ở Gò Kén - Tây Ninh, đặt tên là chùa Thiền Lâm để tưởng nhớ chùa Thiền Lâm của Thiền sư Minh Đạt.
Hiện giờ ngôi mộ Thiền sư Minh Đạt vẫn còn ở chùa Gò Kén, ngay sau tượng Văn Thù bồ tát cưỡi sư. Tháp mộ nằm biệt lập phía trước, bên trái mặt tiền chùa. Bia mộ cho biết, người nằm dưới là Hoà thượng Thích Trí Lượng, tổ đời thứ 38 môn phái Lâm Tế chánh tông. Ngài sinh năm Kỷ Mão (1819) và mất ngày 11 tháng 12 âm lịch năm Canh Tý (1900).
Tổng hợp từ các nguồn trên ta có thể kết luận như sau: Năm 1880, hòa thượng Thích Từ Phong, lúc ấy 16 tuổi quy y với Thiền sư Minh Đạt, tức hòa thượng Thích Trí Lượng tại chùa Thiền Lâm ở nội thành Tây Ninh. Khoảng thời gian 1920 - 1925, HT. Từ Phong xây một ngôi chùa mới ở Gò Kén, đặt tên là chùa Thiền Lâm để tưởng nhớ chùa Thiền Lâm của thầy mình.
Riêng chi tiết chùa Thiền Lâm còn có tên là Từ Lâm như trong tài liệu của TT Thích Đồng Bổn thì ta không rõ. Không biết có phải là tên ban đầu của chùa là Từ Lâm rồi sau đổi thành Thiền Lâm hay không.
Chùa Gò Kén là nơi khai đạo Cao Đài
Chùa Gò Kén đóng một vai trò vô cùng đặc biệt đối với đạo Cao Đài. Tuy là ngôi chùa Phật giáo nhưng đây chính là nơi khai đạo Cao Đài.
Trong phần tiểu sử hòa thượng Thích Từ Phong ở Tiểu sử Danh tăng Việt Nam Thế kỷ XX có nhắc đến sự kiện này như sau: Năm 1926, đạo Cao Đài thành lập ở Tây Ninh. Các chức sắc tiên phong thấy Ngài đạo phong cao trọng, lại có sẵn ngôi chùa khang trang, có ý muốn tôn Ngài chức Thái Chưởng Pháp và mượn chùa Từ Lâm 3 tháng để thiết đàn cầu cơ. Ngài chỉ chấp nhận cho mượn chùa 3 tháng, sau gia hạn thêm 1 tháng để tôn giáo bạn có đủ thời giờ xây dựng thánh thất.
Trong số bổn đạo đóng góp tiền mua đất và xây chùa Từ Lâm ở Gò Kén, ông bà Huyện Nguyễn Ngọc Thơ và Bà Lâm Ngọc Thanh cũng có đóng góp tiền bạc vào nhiều hơn hết. Chùa mới vừa xây dựng xong phần chánh, chưa trang trí, chưa làm đường lớn từ quốc lộ vào chùa, không có Đông lang, Tây lang. Lúc đó là vào năm 1925.
Vào giữa năm Bính-Dần (1926) ông bà Nguyễn Ngọc Thơ được Ðức Chí-Tôn thâu làm Môn đệ, nhập vào Ðạo Cao Ðài. Hai ông bà cũng muốn Ðức Chí Tôn thâu phục Hòa-Thượng Như-Nhãn, nên ông bà thuyết phục Hòa Thượng đến dự một đàn cơ cầu Ðức Chí Tôn tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ ở Tân-Ðịnh. Ðức Chí Tôn giáng cơ thâu nhận Hòa Thượng Như Nhãn.
Tượng Phật Thích Ca ở chùa Gò Kén
Giữa tháng 7 năm Bính-Dần (1926) Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí Tôn thâu làm Môn đệ.
Sau đó, do sự yêu cầu của ông bà Thơ, Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm (Gò Kén) cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Ðạo.
Ngày 29-7-Bính Dần (DL 5-9-1926), Hòa Thượng Như Nhãn được Ðức Chí-Tôn giáng cơ ân phong là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ: Chưởng Pháp phái Thái.
Ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926) Ðại Lễ Khai Ðạo Cao Ðài được tổ chức long trọng tại Thánh Thất Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh) có hằng vạn tín đồ Cao Ðài dự lễ, số quan khách ngoài đời cũng đến dự rất đông.
Ðêm 14 rạng 15 tháng 10 âm-lịch, tổ chức đàn cơ trong Thánh Thất, Ngài Ðầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trấn pháp sót một cửa, nên thừa dịp nầy, quỉ nhập vào đàn, một con quỉ nhập vào ông Lê Thế Vĩnh xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, một con quỉ khác nhập vào cô Vương Thanh Chi xưng là Lê Sơn Thánh Mẫu, nói năng lộn xộn rồi nắm tay nhau nhảy múa, khiến cho nhiều người mới vào Ðạo Cao Ðài bị mất đức tin.
Hòa Thượng Như Nhãn cũng bị mất đức tin. Mặc khác, số đệ tử của Hòa Thượng Như Nhãn yêu cầu Ngài bỏ Ðạo Cao Ðài và đòi chùa lại. Hòa Thượng Như Nhãn nghe theo và quyết định đòi chùa Từ Lâm, không hiến cho Ðạo Cao Ðài nữa, hẹn trong 3 tháng Ðạo Cao Ðài phải dời
Ngày 19-11-Bính Dần, Hòa Thượng Như Nhãn bị thiêng liêng quở phạt làm cho đau nặng.
Ngày 01-12-Bính Dần, Ðức Chí Tôn giáng cơ quở phái Thái và Hòa Thượng Như Nhãn, tỏ ý muốn phế bỏ phái Thái. Ðức Phổ Hiền Bồ Tát cầu xin Đức Chí Tôn tha thứ cho phái Thái và đừng bỏ phái Thái (phái Phật).
Ðức Lý Giáo-Tông giáng cơ trục xuất Hòa Thượng Như Nhãn ra khỏi Ðạo Cao Ðài.Tháng 2 năm Ðinh Mão, Ðức Lý Giáo-Tông quyết định trả chùa Từ Lâm cho Hòa Thượng Như Nhãn và chỉ dẫn Hội Thánh tìm mua được 96 mẫu đất tại làng Long Thành (Tây Ninh) để dời các cơ sở của Ðạo về nơi đây, lập thành Tòa Thánh Trung ương của Ðạo Cao Ðài.
Trên đây là tui tham khảo từ các nguồn chính thống và trích lại cho mọi người tham khảo thôi. Chuyện tôn giáo tui không dám có ý kiến.
Ba ngôi trên một trục
3 cơ sở tôn giáo lâu năm nhất, nổi tiếng nhất Tây Ninh là: chùa Bà Đen trên núi Bà Đen, tòa thánh Cao Đài và chùa Gò Kén. Ngẫu nhiên mà trên bản đồ 3 ngôi này nằm thẳng hàng trên một đường, như ta thấy sau đây:













































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét