"...Ngày xưa tiên xuống đây chơi
Yêu người mến cảnh đường mây quên về
Ngọc Hoàng nổi giận, chiếu phê
Đẩy vào hang vắng cấm về Thiên cung...”
Chùa Hang nằm trên vùng đất bằng phẳng trong lòng 3 ngọn núi lớn là Thanh Long, Bạch Hổ và Huyền Vũ, phía trước là dòng sông Cầu uốn lượn. Tương truyền chùa Hang có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI), được coi là thời kỳ rất hưng thịnh của Phật giáo. Chuyện rằng: Vào một buổi sáng mùa xuân năm Nhâm Tuất, vua Lý Thánh Tông thức dậy đã kể lại giấc mơ của mình cho Nguyên Phi Ỷ Lan chuyện đêm qua nằm mộng, được Phật dắt lên vùng đất địa linh ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Bà Nguyên Phi lập tức thực hiện chuyến kinh lí tham quan, thấy phong cảnh hữu tình, núi non kỳ vĩ, hang động rộng lớn, bèn cho lấy hang dựng chùa thờ Phật, sắc phong cho chùa là Kim Sơn Tự (chùa núi vàng). Có lẽ "Kim Sơn Tự" chính thức ra đời từ đây nhưng nhân dân thường gọi nôm là chùa Hang vì chùa ở trong hang.
Hiện, chùa Hang được chia làm 5 khu với tổng diện tích 8,2 ha, đó là khu bảo tồn gồm toàn bộ hang động, núi đá; khu trục chính đạo tâm linh, gồm 8 công trình là chính điện Tam bảo, nhà thờ tổ, giảng đường hoằng pháp, bảo tháp, lầu chuông, lầu trống, tam quan nội, tam quan ngoại; khu thiền viện chuyên tu; trung tâm từ thiện xã hội; khu sân bãi để phục vụ lễ hội.
Chính điện Tam bảo được xây dựng uy nghi, bề thế chính giữa khuôn viên theo kiến trúc chùa cổ. Trên cùng là ban tam thế Phật vô lượng vô biên, cung Cửu Long; tiếp đến là ban thờ tượng Phật Như Lai thời thơ ấu. Toàn bộ nội thất bên trong tòa thượng điện được bài trí trang nghiêm, phía trên các cung, ban đều có các bức hoàng phi được sơn son thếp vàng. Bên phải là tượng Phật Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn cứu độ chúng sinh quy tâm dưỡng tính; bên trái chính điện thờ Dược sư Lưu Ly biểu trưng công đức và phước đức siêu việt; ngoài cùng điện Tam bảo là tượng ngài hộ pháp Đức Thánh Hiền và Đức Ông. Ngay sau tòa Tam bảo là nhà thờ tổ - Nơi thờ tự các vị chư tăng đã từng trụ trì tại chùa. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có lầu chuông, lầu trống, lầu trà và vườn tháp đá.
Vườn tháp đá.
Sau khi thắp hương và vãn cảnh trong khuôn viên chùa mới, theo lối bê tông nhỏ (có biển chỉ dẫn), du khách sẽ vào thăm ngôi chùa cổ trong hang đá. Càng đi vào sâu trong hang, không gian càng rộng với vòm hang mở rộng, lô nhô chùm nhũ đá. Chính giữa là tượng Phật A di đà cao trên 3 m, mình mặc cà sa, khuôn mặt nhân từ. Phía trước tượng Phật A di đà là hình Phật Tổ nhỏ hơn, đầu đội lá sen. Khói hương được thắp thường xuyên trong lòng hang khiến cho chùa cổ càng thêm mờ ảo, thâm u, kì bí. Điều đặc biệt, dẫu du khách có đi sâu vào hang cũng không thấy ngột ngạt bởi có các ngách thông gió, cửa thông trước, sau. Lễ Phật xong, du khách sẽ có dịp thỏa sức khám phá trong lòng hang với nhiều nhũ đá kỳ thú, nhiều ngóc ngách mà dân gian ví như đường “lên trời” và đường “xuống âm phủ”, điều này khiến du khách khá thích thú.
Lễ hội chùa Hang được tổ chức từ ngày 19 đến ngày 21 tháng Giêng hằng năm.
Chùa Hang là ngôi chùa linh thiêng, một di tích văn hóa, lịch sử nổi tiếng của Thái Nguyên. Trải qua bao biến động của thời gian, di tích này đã được tu bổ, tôn tạo, trở thành một trung tâm phật giáo lớn của tỉnh và là một điểm du lịch tâm linh hấp dẫn cho du khách thập phương hành hương kính lễ.
Bài và ảnh: Nam Đan
Chùa Hang - ngôi cổ tự linh thiêng ở Thái Nguyên
Chùa Hang đã trải qua nhiều lần trùng tu và sữa chửa, xây mới. Dẫu vậy cho đến ngày nay, ngôi chùa này vẫn mang vẻ đẹp của sự cổ kính, hòa vào bức tranh thiên nhiên trữ tình tuyệt đẹp của tỉnh Thái Nguyên.
Di tích thắng cảnh Chùa Hang có ba ngọn núi đá lớn, độc lập trên vùng đất bằng phẳng. Đứng giữa là ngọn núi có tên là "Huyền Vũ" cao, vững chãi, hai bên là hai ngọn núi "Thanh Long" và "Bạch Hổ" uy nghi. Ba ngọn núi này kết nối nhau bởi dải yên ngựa chừng 1.000 mét, có diện tích chân núi chừng 2,7 ha.
Theo lịch sử lưu truyền, Chùa Hang được xây dựng từ một giấc mơ của vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) nhà Lý. Chuyện kể rằng, năm Nhâm Tuất, vào một buổi sáng khi vua Lý Thánh Tông thức dậy, ông đã kể với vợ là Nguyên phi Ỷ Lan rằng mình mơ thấy đức Phật mình vàng dẫn lên vùng đất địa linh ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
Sau đó, bà Nguyên phi Ỷ Lan đã đến đây khảo sát và phát hiện ra vùng đất này có núi non hữu tình, cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp giống như giấc mộng của nhà vua. Biết đây là điềm lành và vùng đất địa linh, Nguyên phi Ỷ Lan đã cho lập chùa thờ Phật. Chùa được đặt tên là Kim Sơn tự, nghĩa là chùa Núi Vàng. Nhân dân địa phương thường gọi nôm là Chùa Hang vì chùa ở trong hang.
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Chùa Hang được chia làm 5 khu với tổng diện tích hơn 8 ha, đó là khu bảo tồn gồm toàn bộ hang động, núi đá; khu trục chính đạo tâm linh, gồm 8 công trình là chính điện Tam bảo, nhà thờ tổ, giảng đường hoằng pháp, bảo tháp, lầu chuông, lầu trống, tam quan nội, tam quan ngoại; khu thiền viện chuyên tu; trung tâm từ thiện xã hội; khu sân bãi để phục vụ lễ hội.
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Bên phải là tượng Phật Quan Âm thiên thủ thiên nhãn cứu độ chúng sinh quy tâm dưỡng tính; bên trái chính điện thờ Dược sư Lưu Ly biểu trưng công đức và phước đức siêu việt. Ngoài cùng điện Tam bảo là tượng ngài hộ pháp đức Thánh Hiền và đức Ông. Ngay sau tòa Tam bảo là nhà thờ Tổ - Nơi thờ tự các vị chư tăng đã từng trụ trì tại chùa.
Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có lầu chuông, lầu trống, lầu trà và vườn tháp đá.
Sau khi thắp hương và vãn cảnh trong khuôn viên chùa mới, theo lối bê tông nhỏ, Phật tử và du khách sẽ vào thăm ngôi chùa cổ trong hang đá.
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Càng đi vào sâu trong hang, không gian càng rộng với vòm hang mở rộng, lô nhô chùm nhũ đá. Nhiều cột đá lớn sừng sững chống lên vòm hang như những trụ chống trời. Quanh vách hang nhiều nhũ đá nhô ra thành các bệ thờ và nhiều hình thù kỳ lạ hấp dẫn.
Chính giữa là tượng Phật A Di Đà cao trên 3 mét, mình mặc cà sa, khuôn mặt nhân từ. Phía trước tượng Phật A Di Đà là hình Phật Tổ nhỏ hơn, đầu đội lá sen.
Khói hương được thắp thường xuyên trong lòng hang khiến cho chùa cổ càng thêm mờ ảo, thâm u, kì bí. Điều đặc biệt, dẫu du khách có đi sâu vào hang cũng không thấy ngột ngạt bởi có các ngách thông gió, cửa thông trước, sau, nên không khí trong chùa rất trong lành, mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp.
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Tương truyền, chùa Hang còn có tên gọi là “Tiên Lữ động”, gắn với một huyền thoại được lưu truyền trong dân gian. Chuyện kể rằng, xưa kia nơi đây thường có các vị tiên xuống dạo chơi, đánh cờ và tắm ở giếng Mắt Rồng nước mát lạnh từ núi đá chảy ra. Trong đó có nàng tiên thứ Bảy, vì yêu người, mến cảnh chốn này mà đã phạm vào luật tiên giới. Nàng tiên thứ Bảy bị Ngọc Hoàng nổi giận đẩy vào hang, cấm không cho về thiên cung nữa, cho nên động trong núi mang tên “Tiên Lữ động”.
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Chùa Hang - Kim Sơn tự với huyền thoại "Động Tiên Lữ" một bức tranh thủy mạc đã làm say đắm bao tâm hồn của nhiều danh nhân, sĩ phu thuộc hàng "tao nhân mặc khách" khi đến đây. Hiện còn nhiều văn bia, thơ phú bằng chữ Hán khắc trên vách hang, ca ngợi cảnh đẹp thiên tạo vô song khi vãng cảnh chùa.
Đó là những bút tích lưu đề có niên đại từ thời Lê Sơ đến Hậu Nguyễn, ca ngợi cảnh đẹp "Chùa Hang - Kim Sơn Tự" như: Thơ của Tiến sĩ Thượng thư Vũ Quỳnh - 1478; của danh sĩ Đặng Nghiệm, niên đại Hồng Đức 1497; của giải nguyên Cao Bá Quát - 1831; Phú văn của Chánh tổng Phạm Đức Độ, niên đại Khải Định năm thứ 10 (1925)...
Chùa Hang (Thái Nguyên). Ảnh sưu tầm.
Trong chùa có một tấm bia khắc vào đá có tên là "Tiên Lữ Động Lâu". Nội dung văn bia ca ngợi Chùa Hang là nơi có núi cao trăm trượng, "cỏ cây chen lá, đá chen hoa", là nơi du khách thường xuyên lui tới viếng thăm. Bia đá khắc vào năm 1487 thời vua Lê Thánh Tông (Hồng Đức thứ 27). Tấm bia này là di vật lịch sử về một thời "vua sáng tôi hiền".
Chùa Hang đã trải qua nhiều lần trùng tu và sữa chửa, xây mới. Dẫu vậy cho đến ngày nay, ngôi chùa này vẫn mang vẻ đẹp của sự cổ kính, hòa vào bức tranh thiên nhiên trữ tình tuyệt đẹp của tỉnh Thái Nguyên.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chùa Hang là căn cứ che chở cho cán bộ, bộ đội và nhân dân ta.
Lễ hội Chùa Hang diễn ra hàng năm từ ngày 19 đến 21 tháng Giêng âm lịch. Đây là lễ cầu Phật, chúc phúc, cầu may mắn. Lễ hội được tổ chức quy mô, long trọng để cầu mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu.
Tham gia lễ hội, du khách được chiêm ngưỡng nghi thức dâng hương, rước kiệu, tạ ơn các vị thần suối, thần sông,… Ngoài ra, phần hội với nhiều trò chơi dân gian như tung còn, bắn cung, đi cầu kiều, đẩy gậy, chọi gà, tung vòng cổ vịt, biểu diễn văn hóa, văn nghệ… thu hút đông đảo người dân và du khách
Tác giả: Đặng Việt Thủy
Đầu xuân về Kim Sơn Tự
Khi hơi Tết còn vương trên lộc biếc, mưa xuân vừa kịp hong mềm đất đá, người dân Thái Nguyên và các tỉnh lân cận lại rủ nhau trẩy hội chùa Hang - Kim Sơn Tự. Dòng người từ khắp nơi tìm về với ước nguyện cầu một năm bình an, để chạm vào miền ký ức văn hóa đã bền bỉ suốt gần nghìn năm nơi cửa ngõ phía Bắc của Thái Nguyên...
Truyền thuyết núi vàng
“Thượng Đu, Đuổm; Hạ Lục Đầu Giang/Nếu chưa trẩy hội chùa Hang chưa về”. Câu ca xưa như một lời nhắc, một lời hẹn. Giữa cánh đồng bằng phẳng của vùng đất Linh Sơn (trước sáp nhập thuộc thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ), ba ngọn núi đá vôi vươn lên sừng sững. Ngọn núi đứng giữa mang tên Huyền Vũ, cao và vững chãi, hai bên là Thanh Long, Bạch Hổ, thấp hơn nhưng cân xứng. Nhìn từ xa, thế núi xếp thành hình ngai vàng, như bức bình phong thiên tạo trấn giữ cửa ngõ phía Tây Bắc của Thái Nguyên.
Trong lòng núi ấy là chùa Hang - Kim Sơn Tự, có từ thế kỷ XI thời Lý. “Kim Sơn” là núi vàng, tên gọi này gắn với truyền thuyết vua Lý Thánh Tông nằm mộng được Phật dẫn tới vùng đất đẹp ở Đồng Hỷ. Nguyên Phi Ỷ Lan thay vua kinh lý, thấy phong cảnh hữu tình, hang động kỳ thú, liền sắc phong dựng chùa thờ Phật.
Chùa xưa nằm trọn trong hang đá vôi rộng lớn. Chạm tới cửa động, hai pho tượng hộ pháp, ông Thiện cưỡi voi, ông Ác cưỡi hổ, uy nghi trấn giữ. Vòm hang mở cao, nhũ đá buông dài. Cột đá dựng thành những hình thù kỳ ảo. Trên vách đá còn lưu bút tích của các danh sĩ như Vũ Quỳnh, Đặng Nghiệm, Cao Bá Quát… Những dòng chữ khắc vào đá, lặng lẽ, bền bỉ, rõ nét, như neo giữ thời gian để người hôm nay còn đọc được tiếng lòng tiền nhân.
Giếng Mắt Rồng nằm sâu trong lòng động, nước quanh năm đầy ắp, mát trong. Dân gian gọi nơi đây là Tiên Lữ Động, truyền thuyết kể rằng các tiên nữ từng xuống dạo chơi, đánh cờ, tắm mát. “Sơn bất tại cao hữu Tiên tắc danh/Thủy bất tại thâm hữu Long tắc linh”: Núi không cần cao, có tiên thì thành danh; nước không cần sâu, có rồng thì hóa thiêng. Cái thiêng của chùa Hang vì thế không chỉ ở địa thế, mà còn ở lớp trầm tích văn hóa - tín ngưỡng lắng đọng qua nhiều thế hệ.
Sang thế kỷ XX, nơi đây không chỉ là chốn tu hành, mà còn là điểm tựa cách mạng. Chùa từng nuôi giấu cán bộ, cất giữ vũ khí, đặt trạm thông tin. Hòa thượng Thích Tâm Lai, một trong những người sớm kêu gọi chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, từng trụ trì tại đây. Sau này, Ni trưởng Thích Đàm Hinh tiếp tục khôi phục, gìn giữ, mở rộng các hoạt động từ thiện, xã hội. Mỗi thời kỳ, chùa Hang lại gắn với một phần lịch sử của đất và người Thái Nguyên.
Năm 1999, di tích thắng cảnh chùa Hang được công nhận là di tích cấp quốc gia. Từ năm 2011, dự án quy hoạch, trùng tu triển khai trên diện tích hơn 8 ha với 27 hạng mục. Mười lăm năm qua, Tam bảo, Tam quan, Nhà Tổ, lầu chuông… dần hoàn thiện bằng nguồn công đức xã hội hóa. Những pho tượng gỗ quý thếp vàng, những cột kèo chạm trổ tinh xảo, không chỉ là công trình kiến trúc, mà còn là kết tinh của niềm tin cộng đồng.
Nhưng điều giữ chân người ta đâu chỉ ở sự bề thế mà là cảm giác mát lành khi bước sâu vào lòng hang. Là tiếng chuông ngân giữa mưa xuân, là nhịp chân chậm lại giữa cuộc sống vội vàng.
Đạo và đời chung nhịp
Hội xuân chùa Hang năm 2026 diễn ra vào ngày 19 và 20 tháng Giêng. Theo thầy trụ trì Thích Đức Trí: Sáng 19 có lễ rước kiệu, đọc văn tế cầu mưa thuận gió hòa; tiếp đó là khai mạc với nghi thức đánh chiêng trống. Buổi chiều và ngày 20 là các chương trình văn nghệ của các đoàn trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt, vào buổi tối, các nghệ sĩ cải lương Trung ương sẽ về biểu diễn những vở kịch và trích đoạn cải lương đặc sắc, phục vụ đông đảo nhân dân. Phần hội với cuộc thi ném còn, nhảy sạp, kéo co, cờ người, đẩy gậy, bóng chuyền hơi…
Sau trận lũ lịch sử cuối năm 2025, nước dâng cao chỉ còn cách thềm chính điện vài bậc. Nhiều hạng mục chìm trong nước, hệ thống loa, điện phải thay mới, đồ thờ hư hỏng phải phục hồi. Trước khi đón xuân, nhà chùa cùng nhân dân, phật tử nhiều ngày dọn bùn đất, tiêu độc khử trùng, sửa sang từng góc nhỏ. Lặng lẽ, kiên trì, như cách một cộng đồng gìn giữ “mái nhà chung”.
Năm nay, chùa còn bố trí thêm khu vực nghỉ chân, thưởng trà, viết thư pháp. Ba điểm cho chữ đặt ở hai lầu trống và dưới sân Nhà Tổ. Một “con đường ước nguyện” treo đầy thẻ cầu an. Mỗi tấm thẻ là một điều mong mỏi nhỏ bé mà chân thành của khu khách và phật tử.
Từng nhiều năm đi hội chùa Hang, du khách trẻ Dương Thị Tươi, 22 tuổi, ở xã Kha Sơn, cho biết: Thường thì một tháng em đi chùa một đến hai lần. Đầu năm em thường đi chùa Hang, vì có phong cảnh rất đẹp với hang động và những dãy núi đá hùng vĩ. Năm nay em thấy ở chùa Hang đã trang trí đẹp hơn rất là nhiều. Và phong cảnh cũng có nhiều thay đổi.
Còn anh Vũ Xuân Đại, phường Phan Đình Phùng lại cảm xúc: Tôi luôn nhớ cảnh chùa Hang giữa dòng người đông đúc một cụ bà chống gậy bước chậm; nhóm sinh viên cười trong mưa bụi; gia đình trẻ bế con nhỏ thắp nén hương đầu năm. Mỗi người một ước vọng. Nhưng cùng chung một cảm giác nhẹ nhõm khi tiếng chuông ngân lên trong lòng núi.
Chùa Hang vì thế không chỉ là di tích, mà là một không gian văn hóa sống. Ở đó, phần lễ giản dị, nghiêng về thiền; phần hội rộn ràng mà vẫn giữ nền nếp. Ở đó, đạo và đời không tách rời, mà song hành.
Đầu xuân, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, những tòa nhà cao tầng bên ruộng đồng trải xanh mướt, sông Cầu mềm như dải lụa, mây lững lờ quanh vòm đá. Tiếng chuông hòa vào gió, dưới chân núi, dòng người lên xuống không ngớt, như nhịp thở bền bỉ của một vùng đất.
Trong lất phất mưa bụi, bên chén trà ngọt hậu, người vãn cảnh bỗng thấy lòng dịu lại. Một vòng tuần hoàn mới bắt đầu. Những điều ước trên “con đường ước nguyện” có thể khác nhau, nhưng niềm tin thì giống nhau: tin vào điều thiện, vào sự bền bỉ của văn hóa, vào mạch nguồn lịch sử.
Người dân và du khách đến chiêm bái ở chùa cổ.
Truyền thuyết núi vàng
“Thượng Đu, Đuổm; Hạ Lục Đầu Giang/Nếu chưa trẩy hội chùa Hang chưa về”. Câu ca xưa như một lời nhắc, một lời hẹn. Giữa cánh đồng bằng phẳng của vùng đất Linh Sơn (trước sáp nhập thuộc thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ), ba ngọn núi đá vôi vươn lên sừng sững. Ngọn núi đứng giữa mang tên Huyền Vũ, cao và vững chãi, hai bên là Thanh Long, Bạch Hổ, thấp hơn nhưng cân xứng. Nhìn từ xa, thế núi xếp thành hình ngai vàng, như bức bình phong thiên tạo trấn giữ cửa ngõ phía Tây Bắc của Thái Nguyên.
Trong lòng núi ấy là chùa Hang - Kim Sơn Tự, có từ thế kỷ XI thời Lý. “Kim Sơn” là núi vàng, tên gọi này gắn với truyền thuyết vua Lý Thánh Tông nằm mộng được Phật dẫn tới vùng đất đẹp ở Đồng Hỷ. Nguyên Phi Ỷ Lan thay vua kinh lý, thấy phong cảnh hữu tình, hang động kỳ thú, liền sắc phong dựng chùa thờ Phật.
Chùa xưa nằm trọn trong hang đá vôi rộng lớn. Chạm tới cửa động, hai pho tượng hộ pháp, ông Thiện cưỡi voi, ông Ác cưỡi hổ, uy nghi trấn giữ. Vòm hang mở cao, nhũ đá buông dài. Cột đá dựng thành những hình thù kỳ ảo. Trên vách đá còn lưu bút tích của các danh sĩ như Vũ Quỳnh, Đặng Nghiệm, Cao Bá Quát… Những dòng chữ khắc vào đá, lặng lẽ, bền bỉ, rõ nét, như neo giữ thời gian để người hôm nay còn đọc được tiếng lòng tiền nhân.
Giếng Mắt Rồng nằm sâu trong lòng động, nước quanh năm đầy ắp, mát trong. Dân gian gọi nơi đây là Tiên Lữ Động, truyền thuyết kể rằng các tiên nữ từng xuống dạo chơi, đánh cờ, tắm mát. “Sơn bất tại cao hữu Tiên tắc danh/Thủy bất tại thâm hữu Long tắc linh”: Núi không cần cao, có tiên thì thành danh; nước không cần sâu, có rồng thì hóa thiêng. Cái thiêng của chùa Hang vì thế không chỉ ở địa thế, mà còn ở lớp trầm tích văn hóa - tín ngưỡng lắng đọng qua nhiều thế hệ.
Sang thế kỷ XX, nơi đây không chỉ là chốn tu hành, mà còn là điểm tựa cách mạng. Chùa từng nuôi giấu cán bộ, cất giữ vũ khí, đặt trạm thông tin. Hòa thượng Thích Tâm Lai, một trong những người sớm kêu gọi chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, từng trụ trì tại đây. Sau này, Ni trưởng Thích Đàm Hinh tiếp tục khôi phục, gìn giữ, mở rộng các hoạt động từ thiện, xã hội. Mỗi thời kỳ, chùa Hang lại gắn với một phần lịch sử của đất và người Thái Nguyên.
Năm 1999, di tích thắng cảnh chùa Hang được công nhận là di tích cấp quốc gia. Từ năm 2011, dự án quy hoạch, trùng tu triển khai trên diện tích hơn 8 ha với 27 hạng mục. Mười lăm năm qua, Tam bảo, Tam quan, Nhà Tổ, lầu chuông… dần hoàn thiện bằng nguồn công đức xã hội hóa. Những pho tượng gỗ quý thếp vàng, những cột kèo chạm trổ tinh xảo, không chỉ là công trình kiến trúc, mà còn là kết tinh của niềm tin cộng đồng.
Nhưng điều giữ chân người ta đâu chỉ ở sự bề thế mà là cảm giác mát lành khi bước sâu vào lòng hang. Là tiếng chuông ngân giữa mưa xuân, là nhịp chân chậm lại giữa cuộc sống vội vàng.
Đạo và đời chung nhịp
Hội xuân chùa Hang năm 2026 diễn ra vào ngày 19 và 20 tháng Giêng. Theo thầy trụ trì Thích Đức Trí: Sáng 19 có lễ rước kiệu, đọc văn tế cầu mưa thuận gió hòa; tiếp đó là khai mạc với nghi thức đánh chiêng trống. Buổi chiều và ngày 20 là các chương trình văn nghệ của các đoàn trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt, vào buổi tối, các nghệ sĩ cải lương Trung ương sẽ về biểu diễn những vở kịch và trích đoạn cải lương đặc sắc, phục vụ đông đảo nhân dân. Phần hội với cuộc thi ném còn, nhảy sạp, kéo co, cờ người, đẩy gậy, bóng chuyền hơi…
Sau trận lũ lịch sử cuối năm 2025, nước dâng cao chỉ còn cách thềm chính điện vài bậc. Nhiều hạng mục chìm trong nước, hệ thống loa, điện phải thay mới, đồ thờ hư hỏng phải phục hồi. Trước khi đón xuân, nhà chùa cùng nhân dân, phật tử nhiều ngày dọn bùn đất, tiêu độc khử trùng, sửa sang từng góc nhỏ. Lặng lẽ, kiên trì, như cách một cộng đồng gìn giữ “mái nhà chung”.
Năm nay, chùa còn bố trí thêm khu vực nghỉ chân, thưởng trà, viết thư pháp. Ba điểm cho chữ đặt ở hai lầu trống và dưới sân Nhà Tổ. Một “con đường ước nguyện” treo đầy thẻ cầu an. Mỗi tấm thẻ là một điều mong mỏi nhỏ bé mà chân thành của khu khách và phật tử.
Từng nhiều năm đi hội chùa Hang, du khách trẻ Dương Thị Tươi, 22 tuổi, ở xã Kha Sơn, cho biết: Thường thì một tháng em đi chùa một đến hai lần. Đầu năm em thường đi chùa Hang, vì có phong cảnh rất đẹp với hang động và những dãy núi đá hùng vĩ. Năm nay em thấy ở chùa Hang đã trang trí đẹp hơn rất là nhiều. Và phong cảnh cũng có nhiều thay đổi.
Còn anh Vũ Xuân Đại, phường Phan Đình Phùng lại cảm xúc: Tôi luôn nhớ cảnh chùa Hang giữa dòng người đông đúc một cụ bà chống gậy bước chậm; nhóm sinh viên cười trong mưa bụi; gia đình trẻ bế con nhỏ thắp nén hương đầu năm. Mỗi người một ước vọng. Nhưng cùng chung một cảm giác nhẹ nhõm khi tiếng chuông ngân lên trong lòng núi.
Chùa Hang vì thế không chỉ là di tích, mà là một không gian văn hóa sống. Ở đó, phần lễ giản dị, nghiêng về thiền; phần hội rộn ràng mà vẫn giữ nền nếp. Ở đó, đạo và đời không tách rời, mà song hành.
Đầu xuân, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, những tòa nhà cao tầng bên ruộng đồng trải xanh mướt, sông Cầu mềm như dải lụa, mây lững lờ quanh vòm đá. Tiếng chuông hòa vào gió, dưới chân núi, dòng người lên xuống không ngớt, như nhịp thở bền bỉ của một vùng đất.
Trong lất phất mưa bụi, bên chén trà ngọt hậu, người vãn cảnh bỗng thấy lòng dịu lại. Một vòng tuần hoàn mới bắt đầu. Những điều ước trên “con đường ước nguyện” có thể khác nhau, nhưng niềm tin thì giống nhau: tin vào điều thiện, vào sự bền bỉ của văn hóa, vào mạch nguồn lịch sử.
Quang Khải












I Love Thái Nguyên
Trả lờiXóa