Chùa Vĩnh Tràng

Tên thường gọi: Chùa Vĩnh Tràng

Chùa tọa lạc ở đường Nguyễn Trung Trực, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. ĐT: 073.873427. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Đường vào chùa

Cổng chùa

Cổng chùa

Cổng chùa được trùng tu năm 2005, phía trên tôn trí tượng Đức Phật A Di Đà

Chùa Vĩnh Tràng (năm 1989)

Chùa Vĩnh Tràng (năm 1998)

Chùa Vĩnh Tràng (năm 2003)

Chùa Vĩnh Tràng

Mặt tiền chùa Vĩnh Tràng

Chùa vốn là một thảo am do ông Tri huyện Bùi Công Đạt xây cất vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1849, Hòa thượng Thích Huệ Đăng trụ trì đã tổ chức xây dựng thành ngôi đại tự và đặt tên là chùa Vĩnh Tràng. Kế vị trụ trì là Hòa thượng Thích Thiện Đề. Khi ngài viên tịch, ngôi chùa hương tàn khói lạnh.

Năm 1890, bổn đạo đến chùa sắc tứ Linh Thứu thỉnh Hòa thượng Quảng Ân – Chánh Hậu về trụ trì. Năm 1895, ngài đã tổ chức xây lại ngôi chùa. Chùa lại bị hư hỏng nặng vì trận bão năm 1904. Từ năm 1907 đến năm 1911, ngài đã khuyến giáo tín đồ đóng góp công của đại trùng tu ngôi chùa và mời điêu khắc gia Tài công Nguyên đảm nhận phần trang trí và tạc các tượng thờ trong chùa.

Hòa thượng Chánh Hậu gốc người Minh Hương, sinh năm 1852 tại làng Điều Hòa, tỉnh Định Tường (cũ). Năm 1876, ngài quy y thọ giới với Hòa thượng Thích Minh Phước tại chùa Bửu Lâm. Ngài đã được cử làm Thủ tọa chùa sắc tứ Linh Thứu từ năm 1880, trụ trì chùa Vĩnh Tràng từ năm 1890, và đã thường xuyên mở các lớp gia giáo để đào tạo tăng tài. Ngài viên tịch vào năm 1923. Hòa thượng Tâm Liễu – An Lạc (tức HT. Minh Đàng, thế danh Lê Ngọc Xuyên) kế tục, cho xây cổng tam quan, mặt tiền, chánh điện và nhà tổ.

Điện Phật (năm 2003)

Bàn thờ Tổ

Tượng Bồ Tát Địa Tạng

Cổng giữa của tam quan làm bằng sắt theo kiểu Pháp. Hai cổng hai bên làm bằng xi măng, dạng cổ lầu, được ghép toàn mảnh sành sứ với nhiều đề tài bông hoa, thú vật, truyện tích… do thợ Huế làm, trong đặt tượng chân dung HT. Chánh Hậu và HT. Minh Đàng do nhà điêu khắc Nguyễn Phi Hoanh thực hiện vào năm 1933.

Chùa rộng khoảng 2 hecta. Trước có sân kiểng và tượng đức Phật Thích Ca tham thiền dưới cội bồ đề. Bên phải có ao sen, tượng đài Bồ tát Quan Thế Âm, hai bên có nhiều ngôi tháp cổ của các vị Hòa thượng tiền bối, phía sau có hội trường và phòng phát hành kinh sách. Trong khuôn viên chùa còn có nhiều cây cao bóng mát và vườn cây ăn trái.


















Tượng La Hán

Mặt tiền chùa được xây bằng bê tông nửa Á nửa Âu. Sách Sổ tay hành hương đất phương Nam (NXB TP. Hồ Chí Minh, 2002) cho biết đây là môtíp La Mã xen với môtíp Phục Hưng, bông sắt Ấn Độ, gạch men Nhật Bản. Những câu chữ Hán viết theo thể truyện xen với những câu niệm Phật chữ quốc ngữ. Đứng xa trông vào nóc chùa mường tượng như năm tháp Ăngkor.

Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Tượng Phật Trung Tôn, bộ tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí), tượng Đản sanh, tượng Di Lặc và tượng Thất Phật Dược Sư được tôn trí ở án giữa. Hai bên án thờ có tượng hai vị Hộ Pháp, tượng chân dung Hòa thượng Chánh Hậu và Hòa thượng Minh Đàng. Chùa còn đặt thờ nhiều tượng như Quan Âm, Địa Tạng, Ngọc Hoàng, Minh Vương… Đặc biệt, hai bên vách có thờ bộ Thập bát La Hán, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, cỡi trên các con thú như trâu, ngựa, lạc đà,… là những tác phẩm tượng tròn độc đáo của Nam Bộ.

Chùa có nhiều bao lam và hoành phi, câu đối. Các bao lam ở đây được chạm trổ công phu, như bộ bao lam Bát tiên kỵ thú đặt ở gian giữa.

Tượng Hộ Pháp

Tháp Tổ

Tượng Bồ Tát Quan Âm

Tượng Bồ Tát Quan Âm

Theo sách Phật giáo Tiền Giang – Lược sử và những ngôi chùa (HT Thích Huệ Thông, NXB. TP. Hồ Chí Minh, 2002), chùa là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế – Trí Huệ. Năm 1987, Hòa thượng Trí Long, đời 41, trụ trì chùa từ năm 1955 đến năm 1987 viên tịch. Do không có người thừa kế nên Nhà nước giao cho Tỉnh hội Phật giáo quản lý và đặt văn phòng làm việc của Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang. Từ năm 1987, Tỉnh hội bầu Ban trụ trì theo nhiệm kỳ. Các vị trụ trì qua các nhiệm kỳ là: Hòa thượng Thích Bửu Thông, Thượng tọa Thích Hoằng Từ, Hòa thượng Thích Hoằng Thông, Hòa thượng Thích Nhựt Long và hiện nay là Thượng tọa Thích Huệ Minh.

Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tiền Giang. Chùa đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. 

Vĩnh Tràng là ngôi cổ tự danh tiếng bậc nhất ở miền Nam.

Non bộ chùa Vĩnh Tràng

Hội trường

Tháp Tổ

Tụng kinh

Chùa Việt Nam - Xưa và Nay
Võ văn Tường
_____________

TP. Mỹ Tho: Lịch Sử Chùa Vĩnh Tràng

CHÙA VĨNH TRÀNG
Đường Nguyễn Trung Trực, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang


Chùa Vĩnh Tràng xưa vốn là chỉ là cái am nhỏ, mái lá vách đất, do tri huyện Bùi Công Đạt (người làm quan dưới triều vua Minh Mạng) phát nguyện xây cất vào đầu thế kỷ 19 để tu dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Vì vậy người dân địa phương quen gọi là “Chùa Ông Huyện”.

Lúc bấy giờ có Hòa thượng Minh Khiêm – Hoằng Ân là một vị danh Tăng từ chùa Giác Lâm vân du về vùng đồng bằng sông Cửu Long hóa đạo. Đến Mỹ Tho, Ngài được Hòa thượng Từ Lâm – Trụ trì chùa Bửu Lâm kính trọng, mời về chùa cầu Pháp và thỉnh Ngài thuyết giảng Phật pháp cho Phật tử, vợ chồng ông huyện Đạt lúc này cũng đến thính Pháp. Hòa Thượng giảng kinh rất hay nên ông bà huyện Đạt xin quy y, làm Phật tử tại gia, và thỉnh Hòa Thượng về viếng thăm ngôi chùa của mình. Được Hòa thượng Minh Khiêm giới thiệu, ông bà huyện Đạt lên chùa Giác Lâm, Gia Định (Nay là TP. Hồ Chí Minh) thỉnh Hòa thượng Huệ Đăng về trụ trì ngôi am tranh của mình.

Năm 1849, Hòa thượng Thích Huệ Đăng vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự, theo lối kiến trúc của chùa Giác Lâm ở Gia Định, nhưng to lớn hơn, với 178 cây cột, 2 sân thiên tỉnh, 5 lớp nhà và hoàn thành vào năm 1849 với tên Vĩnh Trường, xuất phát từ hai câu đối: “Vĩnh cửu đối sơn hà; Trường tồn tề thiên địa”. Người dân vùng lân cận đến nay vẫn quen gọi là chùa Vĩnh Tràng. Hòa thượng viên tịch vào năm 1864 giữa lúc công trình xây dựng còn đang dang dỡ.

Người kế vị hòa thượng Huệ Đăng là hòa thượng Minh Đề, sư đệ của Ngài, nối tiếp công việc trùng tu ngôi chùa. Không bao lâu hòa thượng Minh Đề cũng viên tịch, chùa Vĩnh Tràng rơi vào cảnh hương tàn khói lạnh. Thời gian này có quý Thầy: Quảng Ân, Minh Truyện nối tiếp nhau trông coi chùa nhưng không đủ duyên nên quý ngài ở lại chùa không lâu rồi đi nơi khác.

Năm 1890 tín đồ đã đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu thỉnh hòa thượng Trà Chánh Hậu húy Quảng Ân về trụ trì chùa Vĩnh Tràng; Ngài người gốc Minh Hương, quê ở Mỹ Tho, là đệ tử Hòa thượng Minh Phước gốc Tổ đình Bửu Lâm.

Năm 1895 Hòa thượng Chánh Hậu cùng bổn đạo trùng tu toàn bộ ngôi chùa. Đến 1904, do một trận bão lớn, chùa lại bị tàn phá, vì vậy mà 3 năm sau (1907) chùa Vĩnh Tràng mới được trùng tu hoàn thành. Hòa Thượng còn cho xây dựng lại Bảo tháp Tổ Huệ Đăng và phần mộ của ông bà Bùi Công Đạt để tưởng niệm công ơn các bậc tiền bối. Ngoài ra Hòa Thượng còn mua thêm 12 sở đất để làm tài sản cho chùa, giúp cho hậu thế có cơm gạo để an tâm tu học.

Hòa thượng Chánh Hậu viên tịch ngày 9 tháng 9 năm 1923, hưởng thọ 72 tuổi. Trụ trì chùa Vĩnh Tràng 33 năm (1890 -1923). Kế tục sự nghiệp của Ngài là Hòa thượng Minh Đàn, pháp danh Tâm Liễu, tự An Lạc. Ngài người làng Mỹ Phong, tổng Thạnh Phong, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Ngài là đệ tử của Hòa thượng Chánh Hậu.

Năm 1930 Hòa thượng Minh Đàn đứng ra trùng tu lại chùa Vĩnh Tràng với quy mô kiểu cách hài hòa giữa văn hóa xứ chùa Tháp và lối kiến trúc phương Tây như hiện nay. Đặc biệt Ngài cho xây dựng lại cổng Tam Quan, mặt tiền chùa, Chánh điện, nhà Thờ Tổ và Bảo tháp Hòa thượng Bổn sư bằng đá trắng của xứ Đà Nẵng.

Cổng Tam Quan tráng lệ do những nghệ nhân xứ Huế thực hiện 1933. Về kinh phí được hai ông Huỳnh Tri Phú và Lý Văn Quang hỗ trợ. Chiếc cổng giữa bằng sắt lâu nay vẫn đóng kín. Hai cổng bên xây gạch vươn cao như hai tòa lâu đài cỗ. Nét độc đáo của Tam Quan chùa Vĩnh Tràng thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành, mảnh sứ để tạo nên những bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa những sự tích nhà Phật, những truyện tích dân gian và những đề tài Tứ quý, Tứ linh, hoa lá… Tầng lầu thượng của cổng Tam Quan có vòm cửa rộng. Bên phải đặt tượng Hòa thượng Chánh Hậu, bên trái đặt tượng Hòa thượng Minh Đàn. Cả 2 tượng này đều đắp bàng xi măng giống như người thật, do điêu khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.


Tháng 10/2005 (tức tháng 9 năm Ất Dậu PL.2549) BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang quyết định thay đổi 2 tượng ở cổng này, Tượng Phật Di Đà thay thế tượng Hòa thượng Chánh Hậu, tượng Phật Thích Ca thay thế hòa thượng Minh Đàn. Tượng của hai Hòa thượng được đem vào tôn trí tại nhà Tổ cho đến ngày nay.

Về tổng thể, chùa được xây dựng theo dạng chữ “Quốc” của Hán tự, giống như các chùa của ngưới Hoa, nhưng chùa Vĩnh Tràng có những hoa văn theo kiểu thời Phục Hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt theo phong cách Pháp, nền lót gạch men Nhật Bản. Riêng chữ Hán được viết theo kiểu chữ triện cổ kính, còn chữ quốc ngữ viết theo lối chữ Gô-tích. Nhìn tổng quan bên ngoài, kiến trúc chùa là sự giao thoa giữa Á và Âu một cách lạ mắt nhưng hài hòa. Tuy nhiên, kiến trúc bên trong chùa vẫn mang đậm lối kiến trúc điêu khắc truyền thống Việt Nam.

Ngôi chùa gồm có bốn hạng mục nối tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu), có diện tích 14.000 m², dài 70 m, rộng 20 m, vách tường xung quanh được xây bằng xi măng, toàn bộ cột được làm bằng gỗ quý, nền đúc cao 1m. Riêng mặt trước của tiền đường thì được xây dựng theo lối kiến trúc hài hòa Âu – Á với những hàng cột thanh mảnh, vòm cong và hoa văn nhiều màu sắc. Đi vào bên trong ta sẽ thấy một màu vàng óng ánh được thếp trên các hình chạm, trên các tượng Phật. Đáng chú ý hơn cả là những đôi long trụ trong ngôi chánh điện, đó là những cây cột tròn to, bằng gỗ quý kiến trúc theo kiểu "thượng thu hạ cách".

Phía trong ngôi chính điện và nhà tổ làm theo kiểu Trung Quốc nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc Việt Nam và kiểu nhà Nam bộ năm gian hai chái; Nối hai ngôi này là hai dãy Đông, Tây lang một giếng trời có hòn non bộ ở giữa. Đứng trên hòn non bộ nhìn về mặt sau ngôi chánh điện, hai bên nhà cầu, mặt trước nhà tổ, ta sẽ thấy lối kiến trúc Rôma với những hàng đá hoa màu sắc sặc sỡ kiểu Pháp được trang trí trên thành nóc, trên những cột xây bằng xi măng kiểu cách.


Chùa còn bảo tồn 60 tượng quý, được tạo tác bằng đồng, gỗ, đất nung; và tất cả đều được thếp vàng rực rỡ; Trong đó có giá trị nghệ thuật nhất là bộ tượng mười tám vị La hán nằm ở hai bên tường chánh điện được tạc từ gỗ mít vào đầu thế kỷ 20, mỗi tượng cao khoảng 0,8m, bề ngang gối là 0,58m. Bộ tượng này do tài công (thợ) Nguyên cùng học trò chạm khắc mang nét riêng của khu vực, là đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng tròn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi vị La Hán cưỡi trên lưng một con mãnh thú, tay cầm bửu bối, tượng trưng cho các giác quan mà giáo lý nhà Phật gọi là “lục căn” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý).


Chùa có 3 tượng đồng (Di Đà, cao 98cm, Quan Âm và Thế Chí cao 93cm) được tạo tác giữa thế kỷ 19; bảy bộ bao lam tuyệt đẹp thếp vàng chạm hình Bát tiên, thần Mặt trời và thần Mặt trăng, do các nghệ nhân địa phương chạm trổ công phu vào khoảng 1907-1908. Ngoài ra, còn có chiếc đại hồng chung mang tên Pháp Bảo Chuông cao 1,2m, nặng khoảng 150kg được đúc giữa tháng 5 năm 1854 trên thân có khắc chữ "Vĩnh Trường Tự". Rất tiếc là chuông không còn sử dụng được vì nằm lâu dưới nước trong thời gian bị thất lạc.



Trong chùa hiện nay còn hơn 20 bức tranh sơn thủy rất giá trị. Tuy ảnh hưởng tranh vẽ Trung Quốc nhưng những bức vẽ này mang đậm nét dân gian Việt Nam, in hình "mai, lan, cúc, trúc", hình phong cảnh Việt Nam rất nên thơ. Đó là công trình của Long Giang cư sĩ phác họa năm 1904. Những bức hoành, câu đối trong chùa được điêu khắc chữ nổi thếp vàng như những chữ "Hoàng kim bửu điện" được khắc từ 1851 đến nay vẫn còn khá đẹp.

Phía trong Nhà Tổ, ngoài những hàng cột với những cây gỗ quý, ở mỗi gian đều có gắn bao lam chạm trổ rất công phu, những câu liễng đối được viết bằng chữ Hán rất đẹp. Phía trước nhà Tổ là trai đường thờ Bồ tát Chuẩn đề; Bên trong là ban thờ chư Hòa thượng tiền bối trụ trì và tu tập tại Chùa; Hai ban tả hữu là ban thờ chư vị Ưu bà tắc, Ưu bà di có công đóng góp xây dựng trùng hưng chùa Vĩnh Tràng.

Phía sau Nhà Tổ là Ban thờ Ông Giám, kế đến có một giếng trời nữa cùng hai dãy nhà nối liền với Nhà Hậu, nơi hiện nay được sử dụng làm Nhà Bếp. Tiếp theo nhà bếp là khu nhà ăn dành cho Phật tử.

Xung quanh chùa là những vườn cây cảnh trồng nhiều loại hoa thơm cỏ lạ, những hồ nước thơm ngát hương sen và những cây cổ thụ che trùm bóng mát, tạo nên sự hài hòa tuyệt vời giữa khung cảnh thiên nhiên với không gian kiến trúc, khiến chùa thêm cổ kính, thâm nghiêm.

Theo các chuyên gia văn hóa thì vẻ đẹp của Chùa tập trung ở nghệ thuật tạo hình và có thể xem chùa Vĩnh Tràng là sự phản ánh lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.

Theo Nội San Đất Phật Định Tường số 18, trước năm 1975 chùa được “Liệt Hạng Di Tích Thắng Cảnh của Quốc Gia”.



Ngày 30 tháng 8 năm 1984 chùa được xếp hạng Di Tích Lịch Sử Văn Hóa cấp Quốc Gia. Và được xếp hạng Di Tích Nghệ Thuật Kiến Trúc Cấp Quốc Gia ngày 6 tháng 12 năm 1989. Năm 2007, chùa Vĩnh Tràng được kỷ lục Guinness Việt Nam công nhận là “Ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây”. Năm 2013, Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam công nhận chùa Vĩnh Tràng là Điểm Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh trong chương trình Việt Nam – Những Điểm Đến Ấn Tượng

Bảng Tóm tắt các đời Trụ trì chùa Vĩnh Tràng:
  1. Hòa thượng Huệ Đăng: Trụ trì từ năm 1849 – 1864.
  2. Thầy Minh Đề: Trụ trì năm 1864
  3. Thầy Quảng Ân
  4. Thầy Minh Truyện
  5. Hòa thượng Chánh Hậu: Trụ trì từ năm 1890 - 1923
  6. Hòa thượng Minh Đàn: Trụ trì từ năm 1923 – 1939
  7. Hòa thượng Phật Ấn: Trụ trì từ năm 1939 - 1943
  8. Hòa thượng Thích Trí Long: Trụ trì từ năm 1954 – 1987
  9. Hòa thượng Thích Bửu Thông: Trụ trì từ năm 1987 – 1988
  10. Hòa thượng Thích Hoằng Từ: Trụ trì từ năm 1988 - 1991
  11. Hòa thượng Thích Hoằng Thông: Trụ trì từ năm 1992 - 1994
  12. Hòa thượng Thích Nhựt Long: Trụ trì từ năm 1995 - 2002
  13. Hòa thượng Thích Huệ Minh: Trụ trì từ năm 2002 đến nay.
Từ khi đảm nhận chức vụ Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang, cũng là Trưởng Ban quản trị chùa Vĩnh Tràng, Hòa thượng Thích Huệ Minh đã từng bước kiến tạo lại khuôn viên ngôi cổ tự này ngày một khang trang, tú lệ.

Năm 2002, Hòa Thượng cho sửa ao cá và làm lại hòn Non bộ (bên tay trái từ trong chùa nhìn ra); Làm hang rào bao bọc xung quanh khuôn viên Chùa và các công trình phụ phía sau.

Năm 2003, để có nơi tổ chức các Hội nghị lớn của Phật giáo tỉnh nhà, Hòa thượng Thích Huệ Minh đã cho xây dựng Giảng đường Huệ Đăng I với sức chứa khoảng 500 chổ ngồi.

Năm 2004, cổng chùa phía trước lâu ngày bị nghiêng nên Hòa Thượng cho phục dựng lại. Đồng thời Ngài cũng cho xây dựng nhà Thiền phía bên tay phải từ trong chùa nhìn ra; Nơi này, ngày nay dùng làm Văn phòng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Tiền Giang.

Năm 2007, Hòa thượng cho xây dựng công viên Di Đà nơi mảnh đất phía trước chùa vốn đã nhiều năm bị bỏ hoang; Tôn tạo pho tượng Phật A Di Đà cao 24m (bệ 6m, tượng 18m), đến năm 2008 thì hoàn thành, làm tăng thêm vẽ mỹ quan, thoáng mát mặt tiền ngôi già lam cổ kính.

Ngày 17 tháng giêng năm 2009, sau khi dọn dẹp khu đất rậm rạp nhiều năm phía trước bên tay phải chùa nhìn ra, Hòa thượng tiếp tục xin phép xây dựng công viên Di Lặc trên diện tích 5.000 m², thiết kế Tôn tượng đức Phật Di Lặc với chiều dài 27m, chiều rộng 18m và chiều cao 20m. Mặt bằng phía dưới Tôn tượng được thiết kế như ngôi nhà gồm một tầng trệt và một tầng lầu. Tầng trệt được dùng làm phòng họp, phòng tiếp khách của Ban Trị Sự GHPGVN và 5 phòng nghỉ dành cho khách Tăng. Tầng lầu được sử dụng làm Giới trường, nơi chư Tăng tại chùa Bố tát vào những ngày trưởng tịnh. Công trình hoàn thành vào ngày 7/3/2010.

Ngày 15 tháng 2 năm 2012, để tạo thêm khung cảnh uy nghiêm phía sau chùa, Hòa thượng Thích Huệ Minh tiến hành xây dựng tượng Phật Thích Ca Niết Bàn với phần đế tượng: dài 35m, cao 7m, ngang 18m. Phần thân tượng Phật cao 10m. Công trình hoàn thành vào ngày 26/3/2013.

Năm 2015, nhận thấy phía sau chùa vẫn còn một khu đất trống bị bỏ hoang, Hòa Thượng đã nhờ thiết kế và tiếp tục cho xây dựng công trình Bảo tháp Thất Phật và khu Giảng đường Huệ Đăng II làm nơi sinh hoạt học tập cho Lớp Cao Đẳng Phật học. Bảo Tháp được xây dựng với chiều cao 35m, gồm một tầng trệt và 7 tầng lầu; Tầng trệt thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Bồ Tát; Các tầng lầu, mỗi tầng thời một vị Phật và ba vị A La Hán; Riêng tầng thứ 7 tôn trí 15 bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Khu giảng đường Huệ Đăng II được thiết kế một trệt một lầu, bên trong là những dãy bàn ghế học, với sức chứa khoảng 200 chổ ngồi cho một phòng.

Đặc biệt, khi nói đến chùa Vĩnh Tràng, mọi người đều biết đây là trung tâm Phật giáo của tỉnh Tiền Giang; Nơi này được dùng làm Văn phòng BTS GHPGVN tỉnh Tiền Giang từ khi thành lập (năm 1983) cho đến nay. Chùa cũng là nơi tổ chức các sự kiện quan trọng của Phật giáo tỉnh nhà như: Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh, mở Đại Giới đàn truyền giới cho Tăng ni, tổ chức khóa An cư kiết hạ, tổ chức Đại lễ Phật Đản, Các lễ Tưởng niệm chư Phật, Bồ tát, chư lịch đại tiền bối Hòa thượng Tổ sư, …

Năm 2016, với cương vị Hiệu Trưởng Trường Trung cấp Phật học tỉnh Tiền Giang, mong muốn đào tạo được nhiều thế hệ Tăng tài làm rường cột cho Phật giáo tỉnh nhà lâu dài về sau, Hòa Thượng tiến hành các thủ tục xin phép và chánh thức mở lớp Cao Đẳng Phật học Tiền Giang khóa I. Văn phòng và lớp học đặt tại Giảng đường Huệ Đăng II, chùa Vĩnh Tràng.

Tâm sự về chùa Vĩnh Tràng, Hòa thượng Thích Huệ Minh chia sẻ:
(Phần phỏng vấn)

Xin khép lại ngôi chùa với ý nghĩa của đôi câu đối phía trước chánh điện rằng:
  • Vĩnh cảm từ ân hỉ chư bát kiết cấu tinh lương tam bảo dao đàn tăng tráng lệ.
  • Trường sanh lạc thổ nguyện đại chúng quy y tính thiện ngũ châu thế giới tận quang minh.
Nghĩa là:
  • Nhờ ơn Phật Tổ mãi ban vui đến cho đại chúng khiến ngôi chùa này ngày càng tráng lệ.
  • Nơi đây an lạc dài lâu như cảnh Tây phương, làm chổ quy kính cho đại chúng và lan rộng khắp năm châu.
Ban Biên tập Lịch sử Tự viện Phật giáo tỉnh Tiền Giang xin giới thiệu ngôi chùa đến với bạn đọc.

Sau đây là một số hình ảnh tư liệu chùa Vĩnh Tràng:

































Người viết : Ban TTTT Phật Giáo Tỉnh Tiền Giang
Vĩnh Tràng cổ tự

Chùa Vĩnh Tràng là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở miền Tây Nam Bộ. Chùa tọa lạc tại xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Sau bao biến thiên của thời gian và thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa vẫn đứng sừng sững với vẻ uy nghi riêng của mình. 

Vào khoảng đầu thế kỷ XIX, sau khi cáo quan, tri huyện Bùi Công Đạt phát tâm nguyện xây cất một thảo am để tu dưỡng tinh thần. Sau khi ông mất, hòa thượng Huệ Đăng ở chùa Giác Lâm (Gia Định) đã về đây trụ trì đã vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh Trường, hoàn thành năm Canh Tuất (1849). Về sau không biết từ khi nào người ta gọi chệch thành Vĩnh Tràng.


Tháng 4 năm 1861, khi người Pháp đánh chiếm Định Tường (tên gọi xưa của tỉnh Tiền Giang), chùa bị hư hỏng nặng. Qua nhiều lần sửa chữa, đến năm 1907, hòa thượng Chánh Hậu đã cho trùng tu toàn bộ và ngôi chùa có diện mạo như ngày hôm nay.

Điều đầu tiên hấp dẫn du khách khi đến viếng thăm chùa là vẻ đẹp tráng lệ của hai cổng tam quan do những nghệ nhân xứ Huế thực hiện vào năm 1933. Khác với những ngôi chùa truyền thống, hai cổng này được xây dựng theo lối cổ lầu. Nét độc đáo của hai cổng tam quan thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành, mảnh sứ tạo nên những bức tranh lung linh nhiều màu sắc về chủ đề sự tích nhà Phật và chuyện dân gian…

Chùa Vĩnh Tràng là ngôi chùa nổi tiếng của tỉnh Tiền Giang.


Hai tượng phật khổng lồ trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng.

Cổng tam quan ghép sành làm theo lối cổ lầu do các nghệ nhân xứ Huế thực hiện vào năm 1933.

Chùa Vĩnh Tràng được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận là ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa Đông và Tây.

Chánh điện và gian thờ chính được chạm khắc tinh xảo.

Những bức tượng La Hán sống động được làm bằng gỗ quý sơn son thếp vàng.

Một Phật tử thành kính bái lạy trước tượng đài Phật Di Lặc.

Một buổi tụng kinh niệm Phật thường nhật của các nhà sư chùa Vĩnh Tràng.

Du khách nước ngoài tham quan chùa Vĩnh Tràng. 

Chùa có 178 cột, 2 sân và 5 lớp nhà. Khuôn viên chùa được bố trí theo dạng chữ "Quốc". Kiến trúc tinh xảo, đa dạng theo lối kiến trúc tổng hợp Á- Âu (Pháp, La Mã, Thái, Miên, Chăm). Mặt trước của tiền đường với những hàng cột vững chãi, vòm cong và hoa văn nhiều màu sắc. Nóc chùa Vĩnh Tràng có năm ngọn tháp uy nghi, nổi bật trên nền trời xanh. Năm ngọn tháp này được xây dựng theo quan niệm ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Giữa gian chính điện và nhà thờ tổ chùa Vĩnh Tràng có một khoảng sân nhỏ, ở đó có một hòn non bộ phác họa lại cảnh thiên nhiên sinh động mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Từ đây nhìn về mặt sau gian chính điện và mặt trước nhà tổ, ta lại rõ thấy lối kiến trúc Roma với những hàng đá hoa màu sắc sặc sỡ của Pháp được trang trí trên thành nóc và trên những cột xây bằng xi măng xây khá kiểu cách.

Phía trong điện Phật của chùa có nhiều pho tượng được làm bằng gỗ quý. Điển hình như bộ 18 pho tượng La Hán tạc bằng gỗ mun, mỗi tượng cao khoảng 0,8m, bề ngang khoảng 0,58m. Mỗi vị La Hán cưỡi trên lưng một con mãnh thú, tay cầm bảo bối. Ngoài ra, chùa còn có 60 tượng quý tạo tác bằng đồng, gỗ và đất nung, được thếp vàng rực rỡ.

Bên cạnh hệ thống tượng Phật qúy, chùa Vĩnh Tràng còn nổi tiếng với hơn 20 bức tranh sơn thủy rất giá trị. Những bức vẽ này mang đậm nét dân gian với hình mai, lan, cúc, trúc và phong cảnh Việt Nam rất nên thơ do Long Giang cư sĩ thực hiện vào năm 1904. Ngoài ra, chùa còn nhiều hoành phi, câu đối và chuông cổ rất có giá trị.

Với những giá trị đặc biệt trên, chùa đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Tháng 5-2007, chùa Vĩnh Tràng còn được Trung tâm Sách kỉ lục Việt Nam công nhận là ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có phong cách kiến trúc kết hợp giữa phương Đông và phương Tây. Hiện nay, chùa Vĩnh Tràng là điểm tham quan du lịch rất nổi tiếng của tỉnh Tiền Giang.

Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Nguyễn Luân
Vĩnh Tràng, thấy Phật muốn tu

Chùa Vĩnh Tràng ở thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang là một ngôi chùa nổi tiếng, được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, và là một điểm tham quan du lịch.


Có một câu ca dao nhắc đến chùa Vĩnh Tràng như thế này:

Vĩnh Tràng thấy Phật muốn tu
Ngặt chui qua cửa đội cu Minh Đàn

Hả? Chỗ chùa chiền tôn nghiêm, đang nói về Phật mà sao lại có... cu vô đây? Và Minh Đàn là ai mà ta phải... đội cu?

Thiệt bó tay chấm com với dân gian, nếu ta biết Minh Đàn chính là hòa thượng trụ trì chùa Vĩnh Tràng, thế danh Lê Ngọc Xuyên, người có công lớn trong việc xây dựng chùa Vĩnh Tràng vào năm 1930.

Muốn rõ hơn sự việc, xin mời bạn xem qua ảnh tam quan chùa Vĩnh Tràng, một kiến trúc rất độc đáo:


Muốn đi vô chùa bạn phải đi qua cổng này. Trên tầng thượng của cổng là một bức tượng to bằng người thật, đó là tượng hòa thượng Minh Đàn! Như vậy, muốn vô chùa phải đội c... hòa thượng Minh Đàn!

Thiệt là khổ cho hòa thượng Minh Đàn, cổng tam quan này được thực hiện năm 1933, lúc ông làm trụ trì chùa, thật ra có 2 bên: bên phải là tượng hòa thượng Chánh Hậu, sư phụ của ông, đã viên tịch, bên trái là tượng của ông, Minh Đàn.


Dân gian thiệt là độc mồm độc miệng, nhưng phải nói hòa thượng Minh Đàn cũng có phần nào tham danh khi cho đúc tượng mình ở ngay cổng tam quan!

Nghe nói rằng 2 câu thơ trên lan truyền trong dân gian thành ca dao, đến tai hòa thượng Minh Đàn. Ông xấu hổ, phải cho người đem 2 pho tượng xuống.

Hòa thượng Minh Đàn tịch năm 1939, sau khi ông mất người ta mới đưa 2 pho tượng về vị trí cũ.

Bây giờ vào chùa bạn vẫn phải đi qua cổng tam quan, bên trên là tượng hòa thượng Minh Đàn. Nhưng mà nè, tôi kể chuyện này để bạn thư giãn tí thôi, đừng để nghĩ ngợi lung tung khi qua cổng chùa nhé. Nghiêm túc đi nào!

Phạm Hoài Nhân
Ảnh: Phạm Tường Nhân. Tư liệu: theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét